Cộng đồng Đảo Ngọc - Phú Quốc: Phú Quốc ngày ấy - Nhà lao Cây Dừa (Phần 2) - Cộng đồng Đảo Ngọc - Phú Quốc

Chuyển đến nội dung

  • (2 Trang)
  • +
  • 1
  • 2
  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Bạn không được phản hồi chủ đề này

Phú Quốc ngày ấy - Nhà lao Cây Dừa (Phần 2) Truyện kể dài tập... Đánh giá chủ đề: -----

#1 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:19 AM

Chia tay đồng chí bí thư tỉnh ủy, tôi tính ngược đường lên căn nhà anh Ba Toản chuyện trò một đêm nữa cho trọn vẹn câu chuyện vượt tù, nhưng anh Sáu Ái, phó chính trị huyện đội ngăn lại:

- Ổng lên rẫy rồi! Một tuần mới về. Mùa này làm ăn thất bát mấy ổng đưa nhau lên rẫy trồng mì, trồng lúa thêm. Tôi sẽ cho người đưa ông lên nhà ông Hai Hội. Ông Hai này là người chỉ huy phân đội đặc công đầu tiên của đảo khi ông ở tù ra.

Tôi gật đầu liền. Thêm được nhân chứng sống nào là tốt chừng đó, huống hồ đây là người gắn bó máu thịt với cuộc kháng chiến của quân dân Phú Quốc. Và điều quan trọng hơn là tôi đang thiếu một nhân chứng trong trại tù khu sĩ quan trong khi mới chỉ có một nhân chứng khu hạ sĩ quan là Ba Toản.

Ngồi sau chiếc honda đen của cậu thiếu úy lái xe trẻ măng có lối đi dữ dội, tôi băng lên nhà ông Hai Hội.

Ông có nhà, đang rào lại mảnh vườn trồng đu đủ. Ông Hai đã già lắm, dáng đi đứng không còn dấu vết gì của một sĩ quan đặc công năm xưa. Ông không vào chuyện ngay mà dẫn tôi đến một hồ nước có bồn cỏ ở giữa.

- Hồ Gươm đó - ông nói - Giọng Bình Trị Thiên nặng và ấm - Tôi định thiết kế một cái hồ Gươm nho nhỏ ở đây, sẽ có đủ cả Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc để tưởng nhớ lại Hà Nội, nơi trước khi vô Nam chiến đấu, tôi đã lặng lẽ ngồi bên nó ba đêm liền vì biết đâu đây là chuyến đi xa cuối cùng không gặp lại nữa! Tôi lầm lũi làm một mình suốt hai năm liền, đáng lẽ xong rồi nhưng... gia đình có sự cố nên cuộc đời cũng dở dang mà Hồ Gươm cũng mới vỡ vạc.

Ông khẽ thở dài, mắt hơi tối lại. Nhìn một người già thở dài nghe rầu lòng lắm nên tôi không có ý hỏi sâu ông về "sự cố" này. Nếu cần ông có thể tự bộc bạch.

... Tôi bị địch bắt ở mặt trận Bình Trị Thiên năm 1966 khi bọn thủy quân lục chiến đã găm đạn dầy hai ống chân.

Ông bắt đầu dòng tâm sự - Tôi là sĩ quan công binh kiêm đặc công và bộ binh, đã qua trường đào tạo cán bộ chuyên tấn công nhưng bị quẳng vô nhà giam ở Huế, tôi chỉ khai mình là đại đội phó vừa ở tăng gia về tập sự. Ngược về trước nữa tôi là bộ đội đánh Pháp. Năm "năm tư", hành quân từ Quảng Trị ra đánh trận Điện Biên rồi ở lại luôn. Đời tôi đã được gặp Bác Hồ bốn lần, có lần còn được Bác xoa đầu, rồi khi đi B, ông Nguyễn Chí Thanh lại còn dặn dò sau trước, vậy mà chưa đâu vô đâu đã bị bắt, ức quá!

Tôi bị bắt trước Ba Toản hai năm và vượt tù ra trước Ba Toản ít ngày. Nói chung người nao có chút máu đặc công chảy trong huyết quản, khi bị bắt là nghĩ đến chuyện vượt ngục ngay. Khi còn tạm giam ở Hố Nai - Biên Hòa, tôi đã xác lập xong đường dây tẩu thoát nhưng thật oái ăm, tối mai quyết định hành động thì sáng nay chúng đưa máy bay C130 đến hốt tất cả về Phú Quốc. Thế là lỡ. Người tù hay lỡ cỡ vậy lắm! Nhiều khi tiếc đứt ruột mà đành chịu.

Khác với Ba Toản, ngay từ trại giam Huế về Biên Hòa, tôi đã hiểu Phú Quốc là thế nào. Khi lên máy bay, trại trưởng cũng là tù binh do ta bầu ra, đến từng người dặn nhỏ: "Nhớ nhé! Ra ngoài đó nếu gặp sĩ quan của họ, ta phải chào trước, họ đáp lễ theo đúng luật nhà binh, đừng cố chấp mà uổng mạng. Nhà tù nằm côi cút giữa biển cả, cái mạng người tù rẻ lắm, họ muốn cho sống được sống, cho chết phải chết, không bằng cái thân con rệp!" - Nghe ông dặn mà ớn lạnh xương sống.

Nhưng ra đến nơi, vừa chân ướt chân ráo xuống đường băng nóng giãy, một thằng trung sĩ, tuổi chỉ bằng con cháu mình, xỉa ngón tay vô giữa mặt mình thét: "Ê! Nói tôi là sĩ quan phiến cộng xin được trình diện trung sĩ!" Làm sao có thể nói nổi, tôi làm mặt nghiêm: "Không! Tôi là thiếu úy tù binh chiến cuộc trình diện giám thị". Hắn xáng ngay cho tôi một gậy vào giữa ngực, thét nữa: "Đ. mẹ! Ra tới đây mà còn làm phách mầy! Không có thiếu úy, không có chiến cuộc gì hết ráo! Chỉ có phiến cộng thôi, nghe rõ chưa? "Đau quá hóa liều, tôi cự lại: Ông giám thị nhầm thế nào đó chớ! Phiến cộng thường là chỉ một nhóm năm, bảy mống..." Choác! Lần này hắn xáng thẳng cây hèo giữa mặt tôi. Tôi nhủi xuống, lúc mở được mắt ra thì hai bàn tay đã nhòe máu... Đây là bài học đầu tiên mà tôi thu lượm được. Nơi Côn Đảo này, quyền sinh quyền sát nằm trong tay nó, nếu cứ đối ra đối rả từng câu thì không sống nổi cho đến ngày thực hiện ý định vượt ngục. Nghe nói bên Ba Toản sau này cũng có một cậu quật lại như vậy và bị chúng khẻ gẫy răng. Lại nghe nói chính cậu ấy đã làm một động tác vượt ngục quá sức táo bạo khiến cho tụi nó còn tặc lưỡi kính phục cho đến sau này. Ngày giải phóng, tôi có ý hỏi thăm, có ý đi tìm nhưng không ra.

Do cú đáp vu vơ đó, tôi bị chúng tống vô khu biệt giam B2. Cần phải nói rõ thêm về cấu trúc nhà tù cho đồng chí hiểu.

12 khu là đúng rồi. Nhưng mỗi khu chúng chia thành A, B, C, D. Tỉ như khu 1 có A1, B1, C1, D1. Khu 2 có A2, B2, C2 và D2. Khu 3, khu 4... cũng vậy. Như vậy tôi thuộc phân khu B2 của khu 2 - Khu sĩ quan. Tùy theo từng khu mà chúng đặt B2 hay C3 hoặc A4... Là khu biệt giam. Tức là nếu trước đây toàn nhà lao chỉ có một khu biệt giam thì sau này do số lượng tù binh tăng cao, do anh em tù đấu tranh mạnh mẽ mà hầu như khu nào cũng có biệt giam. Từ những khu biệt giam nhỏ này, chúng sẽ chọn những phần tử nguy hiểm nhất đẩy lên khu biệt giam cấm cố của toàn nhà tù.

Tôi nhớ có một anh tên là Hồng, thứ mấy không rõ, nghe nói là Phó tư lệnh quân khu 9 cũng bị bắt và bị đẩy vào khu này. Về sau hỏi thăm hoài không thấy, tôi đoán chúng đã cho ra biển thủ tiêu. Phải! Tôi cũng nghe đồn chừng vậy thôi. Với những phần tử nguy hiểm do nắm được danh sách, tên tuổi và cấp bậc, chức vụ hay là do chỉ điểm tố giác, phần lớn là bị thủ tiêu hoặc bị cho đi mất tích.

Thủ tiêu thế nào ư? Dễ lắm!

Nửa đêm gọi lên khu nhà bộ chỉ huy (nơi có một phòng hỏi cung và tra tấn hiện đại) và không thấy về. Hoặc có về thì cũng bò lê lết. Thường thường là bị đóng đinh vào hai đầu gối hay hai mắt cá chân. Những chỗ đó sau này loét ra thành sâu hoắm, nhìn rõ cả xương trắng lòi ra cùng với những con giòi con bọ nhầy nhụa bò qua bò lại. Hoặc khi trở về, be sườn bị roi cá đuối rứt ra từng mảng thịt, bị nhét muối cục vào. Không có thuốc thang, không được đi trạm xá, vết thương rỗng loét dần ra, nhìn thấy cả lá phổi tím bầm thở hí hóp bên trong.

Còn chúng muốn thủ tiêu ư?

Quẳng người vô chảo nước đang sôi luộc chín nhừ luôn, hay dúi đầu vô một bao tải than còn nóng rừng rực rồi buộc chặt lại, khi gỡ ra, người và than trộn vô nhau, láng mỡ...
Nhanh gọn hơn, chúng chỉ việc nện đinh 10 phân vô giữa đỉnh đầu hay nện hai cái vồ hai bên tai...
Gần đây, Hội phụ nữ huyện tổ chức đi lấy hài cốt anh em tù chôn xếp lớp ở nghĩa trang, thấy nhiều bộ xương còn nguyên những cái đinh sét cong queo cắm vô sọ hay đầu gối. Có bộ xương còn chằng ngang dọc dây kẽm gai đã gỉ nát. Lạ một điều là dưới dế dép (nếu còn có dép) người chết, thỉnh thoảng có bắt gặp một dấu khắc họ tên, quê quán, ngày vô tù, ngày hy sinh... Nhưng cũng mờ lắm! Mười mấy năm rữa nát trong lòng đất rồi còn gì. Hầu hết anh em mình hy sinh ở đây đã được Nhà nước báo tử, nhưng cũng có những trường hợp không biết đâu mà báo tử thì thật là tội nghiệp!
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#2 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:20 AM

Tôi may mắn không nằm trong số phận thê thảm đó, nhưng cũng trải qua những cực hình đủ để bạc tóc. Đồng chí thử tưởng tượng một người mà thân thể cả năm trời không được tắm rửa thì sẽ ra sao? Bình thường thì ngồi gần nhau đã không chịu nổi chứ đừng nói suốt ngày suốt đêm nằm xếp lớp như xếp cá cạnh nhau. Vậy mà quen. Quen mùi cơm hôi, mùi cá thối, nhép dưới lưng, quen luôn cả mùi cứt đái khắm lẳm ở hai nửa thùng phuy đặt ở hai đầu nhà.
Có bận anh em đấu tranh chóng đi làm tạp dịch như bửa củi, dọn chuồng tiêu cho vợ con lính, chúng để nguyên thùng phân cả sáu tháng không cho khiêng đổ, đêm nằm dòi bọ từ đó túa ra chui cả vào mũi, mồm... Vậy cũng quen.

Chắc đồng chí muốn hỏi cả nửa năm, không đổ phân thì lấy chỗ đâu mà ỉa? Khổ! Ăn uống vậy có phân đâu mà đầy. Quặn bụng lết ra ngồi trên miệng thùng nhắm mắt són ra vài cục rát bỏng đít rồi đứng dậy lê về chỗ, vậy thôi. Ấy, tuy thế do chen chúc ngộp thở qua, người nào được nhường cho nằm cạnh cái thùng giòi đó là hạnh phúc lắm đó. Cái gì không thể không quen thì phải quen, cái gì có thể khắc phục được, anh em ráng khắc phục. Ví như cái chuyện tắm. Trước kia ít tù, tù ít đấu tranh, chúng xử còn khá, mỗi ngày được một ca i nốc nước, thật tằn tiện cũng đủ xài. Về sau mỗi ngày được một đít ca, ăn xong, nhấp nháp gọi là cho khỏi khát rồi giữ lại đổ vào túi li non. Ở trong tù chúng không cho mang vô một thứ gì hết, kể cả đôi đũa tre, cái quạt bằng lá dừa chứ chưa nói con dao, cái đinh, cái dùi nhỏ. Những cái túi mủ này do anh em đi lấy củi lượm giấu mang về được. Vừa nhấp vừa dành dụm như vậy, trừ bay hơi, tùi túi thủng ứa ra, chùng một tháng cũng trữ được một lít nước. Thế là quý lắm! Bắt đầu tắm.

Trước hết nhấp nước miêng vô tay kỳ khô toàn thân một lượt cho bở hết ghét. Kỳ khô xong, ngồi vô cái chậu thiếc do anh em cắt xén những đầu thừa đôi thẹo trên mái, trên tường khum lại. Một người đổ, một người kỳ tiếp. Tức là hai người tắm cho một người. Động tác phải khéo léo và chính xác như thợ làm vàng thì mới hòng không rơi phí ra ngoài một giọt. Người này thắm xong, người kia ngồi vào, tận dụng chỗ nước đục ngầu nổi váng vàng trong chậu. Người thứ 3 cũng vậy, thành tổ ba người tắm táp. Có khi gọn một chi bộ. Chỉ bộ lãnh đạo việc tắm rửa và thực hiện luôn. Những nghị quyết Đảng trong tù thật là cụ thể. Nghị quyết về tắm, nghị quyết về ăn, về cả chuyện... cái cầu tiêu. Đúng vậy. Những ngày nóng nực, ai cũng muốn nằm gần thùng phân sát cửa cho có chút gió. Không lãnh đạo sẽ nảy sinh ra tranh giành khốn khổ. Trở lại việc tắm. Đấy là còn có giọt nước để tắm. Vài giọt thôi, nhưng tắm xong nhìn nhau cũng thấy trẻ ra, thỏa thuê nhẹ cả người như vừa ngụp ở lòng sông, lòng hồ lên. Lấy miếng thiếc mài mỏng đưa lên mặt cạo soàn soạt nữa, vậy là tinh tươm nhẵn nhụi. Còn những khi chúng giở trò đểu cúp nước thì khái niệm tắm coi như loại ra, nước uống còn không có huống chi để dành mà tắm? Khi ấy giọt nước là giọt máu. Lần lượt thay nhau cầm chiếc nắp hộp dầu cao nhỏ bằng đồng xu mà tự đái vào. Tước cười. Đái cũng không ra. Rặn hoài được liu riu vài giọt đỏ quạch như nước phẩm đưa lên miệng... chép khà.

Nhưng có lẽ cực nhục nhất là cái chuyện đi cầu. Không có nước rửa đã đành nhưng giấy lộn lựng cũng có đâu mà chùi. Đi đốn củi, đi làm cỏ vê, đi đào đất ở ngoài rừng, ngoài rú, may lắm cũng chỉ nhặt được một vài mảnh báo nát mủi của lính vứt bỏ mang về chùi được đôi lần. Sau đó thì sao? Lá cây ư? Cái khoản này không ổn, có khi vớ được lá ngứa lại làm tội cả phòng. Rút cục, đành xé áo ra mà chùi vậy. Trong tù dù một năm hay mười năm, anh cũng chỉ được phát một bộ dày cộm kiểu soóc lửng của lính Com măng đo hay lính khố xanh, khố đỏ của Pháp còn sót lại. Tù mới vô còn đỡ, ngoài bộ soóc truyền thống kiểu nhà lao Phú Quốc đó, anh vẫn còn bộ cũ mặc trên người. Một bộ hay hai bộ cũng chẳng thấm tháp gì. Thấm mưa vài lần, phơi nắng vài tháng là mủi bợt hết trơn. Hôi hám quá, chỉ còn cách đập sạch (kêu là giặt khô) rồi lại mặc vào. Gặp bữa trời mưa, cha con mừng rú, nửa đêm lồm cồm dậy thò tay ra ngoài hè giặt, vò lùm xùm rồi sau đó trần trường ôm nhau co quắp ngủ. Phản xi măng, nền xi măng, không chăn, không chiếu, chỉ còn cách dựa hơi nhau mà thiếp qua đêm.

Ấy vậy cũng còn cái giặt khô hay giặt ướt. Xé từng miếng nhỏ chùi đít hết rồi, nhiều người chỉ còn lại miếng vải mang hình dạng khố trên người. Thậm chí ngay đến thứ khố bẩn thỉu ấy cũng phải xé tiếp đi, hoặc một miếng vải buộc phải chùi đi chùi lại nhiều lần. Đồng đội bị đánh bầm mặt ư? Còn cách nào khác là lấy ngay chính cái miếng giẻ đã lau đùi lau háng đó để lau mặt cho bạn. Rồi giẻ xé riết cũng hết, nhiều khi đi làm về, qua đám vợ lính, phải hai tay bưng dái mà chạy ù vô trại cho nhanh.

Đó! Trại tù binh sĩ quan được đối xử như vậy đó. Tưởng rằng chúng tỏ ra biết điều hơn theo luật nhưng thực ra chúng tách riêng để có điều kiện đánh đòn thù dữ hơn. À, có có! Cũng có cái hơn là phản nằm bằng sắt thay vì xi măng như những nhà tù hạ sĩ quan, binh lính khác. Nhưng cốt là nhằm đối phó với đoàn quốc tế nào đến thị sát đột ngột thôi.

Thiệt lòng ma nói, chúng tôi mong mỏi từng ngày một phái đoàn quốc tế nào đó tới. Tới không phải để được cải thiện, được giải quyết cuộc sống lao tù khấm khá hơn - Cái này làm gì có, nhiều khi còn ngược lại - Nhưng có bóng dáng họ, tụi giám thị sẽ buộc phải thả chúng tôi vào rừng để giấu đi những chứng tích về sự đối xử dã man mọi rợ, thế là đủ. Chỉ cần vào rừng thôi đã là thiên đường lắm rồi. Sẽ thỏa sức nằm giang chân giang cẳng mà không phải ấp chồng da thịt lên nhau nữa, sẽ tha hồ bứt lá bứt cỏ nhét vô miệng nhai rau ráu cho đã thèm, sẽ được ngắm nhìn trời cao, hít đầy một lồng ngực những ngọn gió trong lành, sẽ tạm quên đi cái địa ngục rợn mình ai oán, sẽ...

Nhưng những năm ấy có nhiều đâu, năm thì mười họa mới được nếm náp một lần để rồi sau đó lại bị chúng nó kìm kẹp gắt gao hơn. Mở miệng đòi cải thiện đời sống dân sinh ư? Lập tức dùi cui, lựu đạn cay túa vô phòng ngay. Đòi thuốc men trị bệnh, đòi cấm khủng bố đánh đập ư? Chúng điên lên xả cả M79 vô giường nằm. Đòi không đi làm cỏ vê, không đi làm tạp dịch cho vợ con nó, không đi đào công sự, không đi làm rào gai bó chặt thêm anh em tù ư? Chúng gầm ghè nhảy vô xả súng, bắn chết hàng loạt hoặc gọi riêng từng người đi thủ tiêu. Ấy vậy mà thằng trung tá trưởng ban chiến tranh chính trị toàn nhà tù có lần còn dám mở mồm mị dân: "Ở đây tù một, chó hai, lính cuối cùng". Tức là ý nó muốn nói: ưu đãi thứ nhất cho tù, sau đến chó rồi mới là lính. Có tháng thứ nhất và những tháng sau Mậu Thân, đáng lẽ một phòng giam tối đa chỉ nhốt được 60 người chúng đã lèn đến 150 người. Đồng chí biết khi đó anh em tù nằm ngồi như thế nào không? Ba người chung nhau một chỗ. Nghe lạ hả? Tức là nếu một người được nằm thì người kia chỉ còn được ngồi hờ trên ngực người nằm và người thứ ba quỳ ở dưới chân, đưa hai giò của người nằm lên vai mình. Mỏi thì đổi kiểu. Nhộn nhạo rên rỉ suốt đêm như gánh xiếc ma quỷ. Nếu kiểu ngồi hay quỳ không ổn thì xin cứ đứng tự nhiên. Một người nằm hai người đứng chạng chân ở đầu và cuối. Thành thử, từ ngoài nhìn vào, cả phòng giam là một khối thịt người cao một mét sáu, chiều cao trung bình của thân người tù. Vậy riết rồi cũng quen mới lạ chớ!
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#3 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:20 AM

Cuộc sống tù đày ngột ngạt quá cỡ đã biến đổi tính cách con người đáo để. Tôi biết người này hồi ở ngoài vui vẻ, tháo vát, gian khổ thế nào cũng cười đùa như không, nhưng vô đây lại hóa lầm lì, suốt ngày trầm ngâm suy nghĩ ngợi đâu đâu, thỉnh thoảng lại rùng mình một cái như chạm phải rắn độc, người kia vốn hiền lành mát mẻ có tiếng ở đơn vị nhưng nay lại trở nên nóng nảy, hay chửi đổng dễ sợ. Nguy hại hơn, có người ở ngoài nổi tiếng là dũng cảm, coi cái chết bằng vung nhưng vô đây nếm mấy trận đòn thê thảm, chứng kiến những cuộc tàn sát đẫm máu của chúng nó, bỗng trở thành nhút nhát, cứ thấy bóng thằng giám thị mặc quân phục màu xanh, đeo băng đỏ kẻ chữ vàng là mặt mày đã biến sắc đến tội nghiệp. Nhưng lại có người ở ngoài trận mạc lừng khừng mà vô nhà tù lại gan góc, bĩnh tĩnh khác lạ. Cái này kỳ cục hơn. Trong tù không phải hầu hết là tù binh, xen kẽ vô còn có loại "tù lậu" nữa! Sao gọi lậu? Vì khi bị bắt chỉ là anh đi buôn, anh lãng du đây đó làm đủ trò dao búa hay bậy bạ để kiếm sống, nhưng khi bị đánh quá chúng bảo nhận, cứ nhận đại là bộ đội nên chúng tống vô Phú Quốc hết. Tống vô càng nhiều, chúng càng có cớ báo cáo thành tích để được mề đay mà. Ấy vậy, ba cái anh "tù lậu" này nhiều khi còn gan góc, nghĩa tình hơn cả mấy vị sĩ quan học ở trường chính quy ra hẳn hoi. Cũng như quần chúng giữ khí tiết giỏi hơn đoàn viên, và có đoàn viên can tràng hơn cả đảng viên, lẽ đời vốn dĩ nó vậy hỉ?

Nhà tù còn nghiệt ngã hơn chiến trường. Mọi thứ giả trá, trung thực, tốt xấu đều được phơi bày cả ra trước ánh sáng ban ngày.

Tôi đã được chứng kiến một câu mắng đau lòng. Sáng hôm đó, không hiểu nguyên cớ gì, thằng giám thị lôi ba chục người ra phơi nắng trên giàn thiếc. Kiểu phơi nắng này hay bắt tù trèo cây nhum, loại cây đầy gai nhọn và dài chúng chặt ở rừng về, tôi đã được biết qua. Nằm úp mặt trên tấm thiếc bắt đầu còn chịu được, càng về trưa càng nóng bỏng, da thịt ở bụng, ở ngực phồng rộp lên, chịu đến chiều thì người không ra người nữa, nhiều chỗ trên da non bị cháy sém, người yếu sức thường là ngất xỉu. Sáng hôm sau chúng lại phơi nữa. Có đợt hình như nghe đâu thua đau trong đất liền, chúng phơi tù cả một tuần. Một tuần ấy không được đổi kiểu nằm. ngứa không được gãi, những chỗ ghẻ lở đỏ lên như bị lột da. Nếu cục cựa, chúng phang thẳng cánh dùi cui vào đầu, hoặc nếu hứng, chứng sẵn sàng bắn bỏ.

Sau một tuần có một người phát điên, cả đêm la hú, cười sằng sặc. Người nào không điên thì cũng trở thành ám ảnh, sau này chỉ cần nhìn thấy tấm thiếc ăn nắng sáng trắng lên là xây xẩm mặt mày muốn té xỉu. Leo cây nhum còn ghê rợn hơn. Cây cao chứng mười mét, thẳng đừ, đen đúa, gai xỉa ngang như dựng lông nhím. Chúng bắt phải trèo lên đến ngọn rồi lại tuột xuống. Không trèo chúng đánh, chúng chửi thậm tệ. Mà trèo lên thì chỉ cần vài ba cái nhoài người là đùi ngực chân tay bị gai đâm vô nhòe máu. Người nào trèo được lên đến ngọn, khi thả mình rơi xuống toàn thân nát bấy không còn nhận ra hình thù gì nữa.

Khi ba chục người bị đem ra phơi nắng sáng hôm đó, trong hàng có một người bỗng nói gần như mếu máo:

- Tha cho tôi! Suốt đêm hôm qua tôi bị đau bụng không ngủ được. Tha cho tôi.

- Tha gì! - Tên trung sĩ Tỳ, một tên giám thị ác ôn có cỡ không mấy ai không biết đến, quát - Gặp tao ở ngoài kia liệu mày có tha không? Nằm xuống!

- Không... Tôi không... - Người này méo xệch miệng, cặp giò gầy guộc muốn khuỵu xuống - Tôi kiệt sức! Tôi...

Bỗng lúc đó, ở bên phía sân nhà giam hạ sĩ quan và chiến sĩ, phía sân cách bên này bảy lớp rào gai vang lên một tiếng nói uất ức:

- Đồng chí sĩ quan, hãy đứng thẳng dậy, có chết cũng không cần phải xin xỏ, chúng nó khinh!

Khác nào một tiếng nổ động trời! Tất cả chúng tôi và tụi giám thị đều sửng sốt nhìn sang. Người vừa phát ra câu nói đó là một chiến sĩ còn trẻ, gầy trơ xuông, tóc tai trụi lũi gần hết, đôi mắt hốc hõm mở to nhìn thẳng sang người tù sĩ quan bên này.

Mọi người chưa kịp phán đoán thì một viên đạn khô khốc đã bật lên. Người lính lật người ngã xuống, giãy mấy cái rồi nằm im. Mắt vẫn mở trừng trừng lên bầu trời. Khẩu súng rulo trên tay thằng trung sĩ giám thị bên đó còn đang ngún khói...

Vậy là tức nước vỡ bờ! Cái áp suất ngột ngạt bấy lâu do những trận đòn, những bữa ăn, những cái chết tức tười, những hình phạt man dại, những cơn ngứa ghẻ, những ngày nắng và những ngày mưa... Cùng một lúc bị đôi mắt người lính trẻ kéo thức dậy đòi giải tỏa: Ít nhất là phân nửa số tù sĩ quan và hầu hết anh em tù bên nhà giam chiến sĩ gào lên, lao những bộ xương quều quaovaof đám giám thị và bọn lính. Cát trắng trong sân bay bụi mù. Tiếng hộc, tiếng thét, tiếng rú rít vang lên hầu như không còn là của tiếng người. Lác đác đã có tiếng súng nổ và những thây người đổ ập xuống. Tiếng gào của số đông vẫn nổi lên. Một cái bóng giám thị đeo băng đỏ bỏ chạy, một vài cái nón quân cảnh bay ra khỏi những sọ vỡ nát. Những nhà giam, những phân khu khác ở gần đó cũng rền lên những tiếng hô ủng hộ lạc giọng: "Đả đảo bọn giết người!...". "Không được đàn áp dã man tù binh...". Cả nhà tù như lên cơn say. Tưởng như chỉ với những tiếng gào thét, những bộ da bọc xương nhào về phía trước, trong phút chốc có hàng ngang tấn rào kẽm gai, cả hàng trăm phòng giam đen đúa, cả bầy lũ quân cảnh đông lúc nhúc kia sẽ bị nghiền nát, sẽ bị quét sạch nhưng... nhà tù vẫn là nhà tù, địa ngục vẫn hoàn nguyên địa ngục, khoảng chừng nửa giờ đồng hồ sau, mọi sự đâu lại vô đấy. Những khẩu đại liên đầy đạn, những chiếc xe bọc thép, bọc đồng có gắn trọng liên, trung liên đã hoàn tất công việc tưới máy của nó. Xác bọn quân cảnh được đem đi, nhưng xác tù binh bị để lại với số lượng mười lần hơn.

Đây là lần tàn sát thảm khốc thứ ba mà Ba Toản chắc chưa kể với đồng chí. Lần này ta tổn thất gần hai trăm người, nghĩa địa nhà tù lại được bổ sung hai trăm bộ hài cốt! (Còn lần thứ tư, lần cuối cùng ở khu chiêu hồi nữa, đồng chí tự tìm hiểu sau).
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#4 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:20 AM

Trở vô nhà lao, anh Hồng, người mà anh em đảng viên đoán rằng là người lãnh đạo cao nhất trong khu, ấp mặt vô tường khóc lặng lẽ hồi lâu. Ngồi cạnh anh, tôi thoáng nghe được tiếng nói tức nghẹn trong lồng ngực hen suyễn nặng:

- Trời ơi! Nếu mà ta kịp chủ trương chung... Nếu toàn nhà lao có một đường dây chỉ đạo thống nhất... Nếu mà...

Buổi trưa, thằng trung tá Hoạt, chỉ huy trưởng nhà lao xuống khu B2 cùng với thằng cố vấn Mỹ. Thằng này khác thằng chúa ngục trước, nó mềm mỏng lịch lãm hơn và không mấy khi ra mặt chơi rắn với tù. Làm vẻ mặt khổ đau, hắn giơ hai tay lên trời:

- Lạy chúa tôi! Sao mà đến cơ sự này kia chứa! Chúng ta đều là lính, chúng ta có thể dàn xếp ổn thỏa với nhau theo phong độ người lính được kia mà. Rất tiếc... Rất tiếc.

Tôi nhớ tên cố vấn Mỹ tóc bạch kim lúc ấy cũng làm động tác giơ hai tay lên trời và nhún vai. Có vẻ muốn lấy lòng tên quan thầy tóc trắng hoặc muốn xoa dịu chúng tôi, hắn gọi thằng trung úy giám thị trưởng đến nghiêm sắc mặt, nói to:

- Ông Phước! Tôi, và đặc biệt ông cố vấn đây rất không hài lòng vì đã xảy ra chuyện đau lòng này. Ngay đêm nay ông lập cho tôi danh sách những kẻ dưới quyền ông không làm đúng lệnh tôi, còn ông, sáng mai mời ông lên bộ chỉ huy làm việc.

Nói xong, hắn cùng với tên Mỹ nhảy lên xe Jeep phóng ào đi, để lại gần hai trăm xác chết đã bắt đầu có mùi dưới những đám mây ruồi nhặng mỗi lúc mỗi đen kịt.

Sự "đau lòng" của tên Hoạt và quan thầy của hắn được trả lời bằng đêm hôm sau, mười lăm người trong chúng tôi bị bí mật gọi đi và không bao giờ trờ lại, may mà trong đó không có đồng chí Hồng...

Ông Hai Hội, tức Cáp Đình Hội dừng lời. Từ ngoài cổng, cậu con trai út mười sáu tuổi của ông đi chiếc Club 70 phân khối sán sạt lăn vào. Cậu lý nhí chào tôi rồi quay sáng bố:

- Treo xe thôi ba ơi! Xăng hôm nay lên tới năm ngàn một lít rồi. Người ta nói nay mai còn lên nữa. Họ đổ tại khủng hoảng vùng Vịnh đó.

Cha nói giọng Trị Thiên, con lại nói giọng Phú Quốc. Vài ba năm nữa chắc cả hòn đảo này chỉ còn được nghe một chất giọng của lớp cháu con thôi. Được hỏi cháu học lớp mấy, ông Hai trả lời cháu nghỉ rồi. Nghỉ để phụ giúp ông trồng tiêu, trồng điều.

- Kể lại chuyện nhà tù hả ba? - Cậu con trai nói - Kể gì hoài vậy? Chuyện đã qua lâu rồi mà.

Ông Hai cười. Cái cười heo héo không vui. Tôi hiểu lòng ông và làm như không nghe thấy câu nói ráo hoảnh mà thực chất là rất đỗi hồn nhiên của người con đó.

Tuy vậy, ông Cáp Đình Hội cuốn nhanh một điếu thuốc rê đưa lên miệng, nói tiếp:

- Không phải bao giờ trong tù cũng ngột ngạt quá trời như vậy. Vậy hoài làm sao sống nổi? Chúng tôi vẫn gồng lên, phải tạo ra cái bình thường trong cái bất bình thường, cái có thể trong cái không thể, cái sự sống trong toàn bộ không khí chết.

Anh em vẫn tổ chức học văn hóa trong những giờ rảnh rang không bị đưa đi làm tạp dịch. Người khá dậy người kém, người khá hơn hướng dẫn người đã biết ít nhiều, ếch cõng nhái gom thành từng nhóm. Từng tổ cứ râm ran lên. Dụng cụ học là thỏi than củi xin được ở bếp ăn viết xuống nền nhà hoặc mảnh gỗ kiếm được ngoài rừng miết xà bông lên, phủ vải nhựa ra ngoài rồi lấy đầu đinh làm ngòi viết. Loại bảng đen "vĩnh cửu" này có thể dùng được mãi. Ấn đầu đinh xuống nó hiện chữ hiện số. Miết tay lên nó lại phẳng lì, sạch bóng. Trên tấm bảng đó anh em làm toán, học ngoại ngữ, người nào có trình độ cao có thể giải được cả phương trình có nhiều ẩn số, cả tích phân vi phân. Cứ vậy thời gian trôi đi và mọi cực nhục cũng dần lắng xuống. Nhưng có người lắng xuống để trở thành cam chịu, số cam chịu chờ thời này nhiều lắm. Không đấu tranh, không đòi hỏi, không sinh hoạt chi bộ, chi đoàn, suốt ngày ngồi ủ rũ trong bóng tối, mong mỏi đến ngày được trao trả. Chính số chiêu hồi nảy sinh từ hàng ngũ này. Tự dằn vặt, tự làm khổ mình nhiều quá, tới một lúc nào đó, điều kiện cho phép như cái chết không tránh khỏi đến gần, thèm cồn cào một điếu thuốc, một chén cơm không thiu thối, một ca nước uống cho đã thèm - nhỏ nhặt vậy thôi - cũng đủ để đẩy cả một con người sang phía bên kia.

Buồn lắm! Bên kia tức là sao? Là đang tâm hầu hạ vợ con lính, là rình mò bạn bè mình như chó, là phản bội hết thảy những cái gì mình hằng theo, hằng tuyên thệ. Nhưng tôi nói điều này đồng chí có thể viết lên báo: Không phải ai mang danh chiêu hồi cũng là lòng dạ chiêu hồi. Nhiều khi bị oan ức vì kẻ thù giăng bẫy rất quỷ quyệt.

Ấy, còn cái này nữa nói luon kẻo quên. Trong tù anh em cũng biết cải thiện cuộc sống bằng bàn tay tài hoa của mình. Ra ngoài rừng nhặt về được một cọng thép gai cất đi. Rồi dùng cạch sắc quai cà mèn đựng cơm đục thành lỗ. Có lỗ rồi mài cọng thép xuống nền xi măng. Mài đi mài lại, mài thật kỹ, sau một vài tuần bỗng có một cây kim gần đúng kích thước trong tay. Có kim rồi, nhờ anh em đầu bếp, cũng là tù, kiếm cho ít chỉ màu và miếng vải trắng bỏ đi. Thế là thêu, thêu cặm cụi, hình loan phượng, chim cò, công, có cả cá. Mang mặt gối ra hàng rào phơi, tụi lính bâu vô coi trầm trồ xuýt xoa. Hôm sau có thăng fchur động mang chỉ, mang vải tới nhờ anh em thêu giùm gửi về cho vợ làm kỷ niệm. Anh em nhận lời nhưng đòi lại thuốc hút lai rai, 15, 16 người bập chung nhau một điếu, bập nhẹ thôi để người sau còn có chút khói mà hút vô. Riêng khoản thuốc lào thì lại có "tái sử dụng" bằng cách thứ nước điếu khai nồng được giữ lại trộn vô lá hà thủ ô bứt ngoài rừng về băm nhỏ rồi đem phơi khô, khi thèm, cuốn hút bậy bạ cũng gọi là có chút mùi ngai ngái.

Và yêu nhau, thương nhau lắm đồng chí ạ! Tôi cứ lẩn mẩn nghĩ rằng, những ngày đó mà cũng chia năm sẻ bảy, tình người ghẻ lạnh chỉ cốt ấm thân mình như bây giờ thì có lẽ đã tự tử hoặc đầu hàng hết rồi. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ! Một người bị đánh, cả phòng giam xúm vô xoa bóp, động viên, nhường cơm, nhường canh cho. Thậm chí khi bị đàn áp tập thể, người khỏe nằm phủ lên che đòn cho người yếu. Một ai đó bị gọi đi không trở về, cả phòng giam lắng đi cả ngày như thầm vĩnh biệt người thân yêu ruột thịt. Trong phòng tôi, có anh Tư Phước và anh Bảy Minh tạo thành một tổ tam giao, thành một chi bộ, một mái ấm gia đình động viên nhau, giúp đỡ nhau mọi việc để chèo chống chờ đến giờ khắc thoát ngục.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#5 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:20 AM

Song, cũng cần phải coi chừng! Chính một trong những kẻ hay làm ra bộ thương xót mùi mẫn, hay xoa bóp thuốc thang đó biết đâu lại là kẻ thù. Cảm động với nó, tin nó, dần dần thổ lộ hết mọi nguồn cơn với nó, vậy là lộ. Lộ một người còn đỡ, lộ cả chi bộ, cả đường dây thì tổn thất không biết bao nhiêu mà kể.

Vậy mà trong lao tù, ngay cả lòng tốt cũng bị lợi dụng, chính tôi đã có lần phát hiện ra một thằng như thế! Cái gì nó cũng làm quá đi thành ra giả. Một người tù bị phù thũng quá nặng, nước vàng nước đỏ rỉ ra các lỗ chân lông, cổ chân bành ra như chân voi, ấn nhẹ vô một cái, cả tiếng sau không đầy trở lại. Người này được thằng kia giúp cho mấy viên thuốc vàng vàng bọc trong giấy kiến. Vậy là quá tốt. Nhưng một đồng chí quân y sĩ tên là Tuyển người Rạch Giá phát hiện ra đây là thứ thuốc rất quý của Mỹ, chỉ có bọn cố vấn và bọn chỉ huy mới có dùng, còn tại trạm xá chỉ toàn một thứ thuốc rẻ tiền, uống vô phù thêm. Cha này làm sao có? Tôi báo cáo với đồng chí bí thư đảng ủy. Đồng chí này cho người khéo léo kiểm tra. Nó chối vòng vo. Dọa giết. Nó bèn nói thật, vậy là nó tới số. Sáng hôm sau mang xác nó trình thằng tổng giám thị, trình công khai:

- Tên này tính giết hai anh em nên chúng tôi giết nó để tránh cho ông giám thị một sự khiển trách của cấp trên vì tình hình mất an ninh của phòng giam.

Thằng giám thị tái mặt, cố chống chế:

- Mấy người nói thế nào vậy chớ! Cùng là sĩ quan, cùng là tù binh các người với nhau làm chi có chuyện bất nhân vậy.

- Vậy mà có. Một trăm hai mươi người tù cùng xác nhận, ông có thể hoàn toàn tin được.

Không biết làm sao, tên này thét lính mang tên phản bội đi chôn. Chôn cùng với nghiã địa tù binh. Tức là, tại nghĩa địa ấy, không phải chỉ có toàn những con người chính trực mà còn cả những kẻ bán rẻ linh hồn cho quỷ sa tăng. Sau này đào hài cốt, thế hệ mai sau làm sao biết được ai ngay, ai phản bội? Nhưng thôi! Dù sao cũng đã chết...

Theo chỗ tôi biết thì cho tới cuối "sáu bảy", đầu "sáu tám", tại nghĩa trang nhà tù, một khoảng đất rộng nằm giữa khu 5 và khu 7 đã có chưa 2.000 tử sĩ rồi. Hồi đầu năm, chúng nó dùng xe ủi ủi bằng đi một lần, cái lần ấy không rõ đã xóa đi bao nhiêu hài cốt và từ "sáu tám" trở về sau, nghĩa trang còn nhận bao nhiêu xác người nữa? Ít nhất cũng tới 4.000 người. Tôi và những tù binh còn sống sót có thể đoán chắc con số đó. Bốn ngàn tử sĩ trên bốn mươi ngàn tù binh lúc đông nhất, vậy là một phần mười! Đồng chí có hình dung con số ấy nói lên điều gì không? Thiệt là thảm hoạOotssstovenxim hay Austovit của bọn quốc xã Đức chắc cũng chỉ tàn sát đến con số đó, mà bọn Đức còn biết tàn sát gọn nhẹ bằng lò thiêu, bằng khí đốt chứ không tàn sát nhỏ giọt, man rợ như ở đây.

Ông Hai nói một hơi với giọng xúc đông rồi dừng lại. Nắng đã về chiều. Tôi tính kêu ông tạm nghỉ vì không muốn con người già cả này sống quá lâu trong thứ cảm xúc u ám đó, nhưng ông đã nhẹ cười, cái cười thật xa vắng:

- Ác độc cỡ vậy nhưng chớ đổ hết lên đầu lính quân cảnh. Quân cảnh có thằng tốt thằng xấu, cũng như giám thị không phải là quỷ độc hết. Tôi muốn đồng chí nắm câu chuyện một cách khách quan. Vậy thôi. Trong cái trung đội quân cảnh canh giữ khu B2 sĩ quan, tôi có để ý thấy một người trung tuổi, khoảng chừng ba mươi hay hơn ba mươi gì đó, người này ít nói, đi lại nhẹ nhàng và hay hướng cặp mắt buồn buồn lộ vẻ thông cảm về phía chúng tôi. Chính người này đã không ít lần lén mang nước, mang thuốc đỏ cho chúng tôi lau rửa vết loét bị sâu cho các bạn tù. Nhưng mà cho lén thôi, thường để ở lùm cỏ chân rào hay làm lộ vô tình để rớt xuống rãnh nước khô. Nếu lộ, anh ta sẽ bị quy tội tiếp tay cho kẻ thù, và như vậy dứt khoát sẽ bị trừng trị.

Một lần, cực quá chịu không nổi, một tù binh đã chui trong thùng rác để hy vọng khi bạn tù khiêng ra ngoài rào đổ đi sẽ có cơ trốn thoát. Chui trong thùng rác thế nào ư? Tức là toàn bộ người ngập trong rác rưởi, chỉ hơi để hở mặt mà thở, cái phần hở này được hai bạn tù lấy rác rưởi lá lẩu phủ lên che đi. Phương cách trốn trại này không mới, ở khu A1, đã có lần tù ra thoát bằng chui vô thùng than xỉ đem đi đổ. Chúng rút kinh nghiệm, thùng than nào cũng chọc lưỡi lê vô nát bấy rồi mới cho đem đi. Kiểu ra thùng than không được nữa thì bằng kiểu thùng rác. Rác rưởi để lâu bốc mùi không thể chịu nổi nên bọn lính thường bịt mũi tránh xa. Nhưng lần này gặp phải hai người khiêng yếu quá nên dáng đi lắc lư. Thằng trung sĩ giám thị giỡ súng chặn lại.

- Ê mày! Rác rưởi gì mà coi nặng mòi nặng dữ vậy? Để xuống coi!

Hai người tù tái mặt. Thằng ác ôn này dám xọc bậy lưỡi lên vô lắm. Chưa biết xử lý sao thì người lính có đôi mắt rầu rầu đó đã bước tới, giọng anh ta đanh lại.

- Thôi đi, trung sĩ! Kìm kẹp người ta như vậy chưa đủ sao mà có cái thùng rác cũng dò xét. Kỳ quá!

- Đây không phải phận sự của anh - Tên giám thị nhếch mép - Phận sự của mấy anh là ôm súng canh giữ còn không xong, muốn nói gì?

Hắn rút súng xăm xăm bước tới chỗ hai người.

Bất ngờ, anh lính quân cảnh chĩa thẳng khẩu AR15 vô ngực hắn và nói:

- Đứng lại! Mày tiến lên một bước tao bắn. Đ.mẹ! Có giỏi ra chiến trận mà khoác lác, giỏi gì đi hù dọa mấy người tù ốm yếu tay không.

Tên giám thị sựng lại. Theo lẽ là giám thị dù đeo lon trung sĩ thôi nhưng quyền hành cao lắm, tương đương đại đội trưởng quân cảnh hoặc có phần hơn vì ăn ngành dọc lên chỉ huy trưởng và cố vấn Mỹ, thậm chí có thể ăn lương của CIA; tên này có thể bắn bỏ hoặc tống giam bất cứ người lính nào cản trở công việc, nhưng lúc đó có lẽ do thái độ người lính quá dữ tợn, lại thêm mấy người lính khác gầm ghè xáp đến nữa hắn tháo lui, vừa tháo vừa làu bàu... Tất nhiên mấy bữa sau, người quân cảnh có ánh mắt u buồn này bị đổi đi đâu mất mà tôi chưa kịp biết tên tuổi. Thực chất, hai lực lượng quân cảnh và giám thị thường xung khắc với nhau. Giám thị thì phách lối, hưởng bổng lộc cao và hay ton hót cấp tên, còn quân cảnh thức đêm thức hôm, đụng việc là phải càn rừng lội bưng rất cực mà bổng lộc không có gì.

Lại có người lính khác, trong một lần dẫn tù đi lấy củi đã chợt nhận ra đồng chí Ba Năm, người Sông Bé là cậu ruột của mình nhưng không dám lên tiếng. Ông cậu cũng nhận ra cháu nhưng do mặc cảm đối kháng hoặc không muốn gây lụy cho đứa cháu đi lạc đường nên mần thinh. Thái độ mần khinh đó làm người cháu tủi hổ, càng tủi hổ hơn khi có một lần thương cậu quá, người cháu lén đưa cho cậu một ổ bánh mì nhưng cậu không nhận còn làm mặt lạnh quay đi. Cuối cùng, sau những đêm trằn trọc, chắc thế, người cháu kiếm cớ đánh tháo cho cậu và mười người nữa chạy vô rừng, bản thân ở lại cho một phát đạn vô đầu...

Lần khác có một đảng viên do quá nghi ngờ anh em trong phòng giam của mình, lại cũng không chịu nổi sự lẻ loi cô đơn về đoàn thể nên đang đêm chui bảy lớp rào sang nhà giam bên cạnh tìm đồng hương có quen biết cũ để lập chi bộ. Đang chui bị phát hiện, nghĩ phen này chắc chết, ấy vậy mà người lính đã phát hiện đó lại giả đò vạch quần đái ngay trên đỉnh đầu, nói nhỏ:

- Ông nội liều quá trời! Muốn chui sang bên thì phải chờ khuya khuya chút chớ, giờ này người ta còn thức cả. Trở lại lẹ đi không ăn đạn bây giờ.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#6 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:20 AM

Có thể kể được nhiều chuyện kiểu như vậy lắm. Nhưng cái đầu bây giờ ụ ị đi nhiều rồi, muốn nhớ mà không nổi. Ồ! Có nghĩa là tôi đã đề cập với đồng chí sang vấn đề vượt ngục hỉ? Tôi biết đồng chí từ nãy giờ làm bộ chăm chú cũng chỉ để chờ nghe chuyện vượt ngục này - Ông cười ranh mãnh một cách bất ngờ - vậy tôi xin chiều đồng chí hỉ?

- Vâng! - Tôi thú nhận ngay - Chắc bác ra bằng đường khoét hầm?

- Không! Tôi ra bằng cách chui rào.

Chợt thấy vẻ mặt tôi có chiều thất vọng của tôi, ông lắc đầu cười:

- Biết mà, năm trước có mấy chú báo chí, truyền hình ở thành phố đến đây cũng chỉ nhăm nhăm hỏi chuyện khoét hầm và người khoét hầm, phải thôi! Nói đến tù Phú Quốc là nói đến sự tích đường hầm. Sự tích này còn ly kỳ gian khổ bằng mấy chuyện đào đường hầm ở Côn Đảo mà một cuốn sách nào đó ra đã lâu có nói đến.

- Không... Thưa bác! Là tôi cũng chỉ muốn... - Tôi chống chế vì e phật lòng ông già.

- Thôi tôi biết rồi! Mà cũng có nghĩ ngợi gì đâu. Vượt kiểu gì thì vượt, miễn là ra thoát được. Có thể nói tù binh Phú Quốc có ba cách ra phổ biến, cách thứ nhất là chui rào kiểu đặc công, cách thứ hai là đánh lính đoạt súng khi đi làm tạp dịch bên ngoài, và cách cuối cùng cũng là cách gian nan nhất là đào hầm, chưa nói đến hàng chục cách vượt lẻ tẻ khác như đoạn trên tôi vừa kể sơ. À, coi nào! Đúng rồi! Về khoét hầm, đồng chí có thể tìm một người tên là Lê Xuân Các, nhà giam hạ sĩ quan. Anh này là thần đào hầm đó. Sau này ra ngoài chiến đấu, gặp gỡ nhau luôn nhưng tôi đâu có để ý hỏi quê quán ở đâu. Nghe nói là người Nghệ An hay Thanh Hóa gì đó, thử hỏi Ba Toản coi.

- Dạ hỏi rồi! Anh Ba Toản cũng không biết. Lại có người bảo Lê Xuân Các hình như đưa vợ con vào Sông Bé làm ăn rồi. Nhưng không sao! Không tìm được người này thì có người khác, chú Hai! Bây giờ chú Hai kể kỹ cho nghe chuyến ra lối đặc công của chú.

- Chà! - Ông Hai Hội lắng đi một luc rồi mới nói, mắt nhìn vuốt xa ra ngoài nắng như nhìn ngược trở lại một miền ký ức - Chuyện lâu rồi! Hơn hai chục năm trường rồi mà khi nhớ tới, lại nghe rần rần trong mình như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua.

Đồng chí nên hiểu, dù sống trong tù cực nhục như con vật vậy nhưng không phải ai cũng nung nấu ý chí vượt ra đâu. Ít lắm! Vài chục người trên một trăm người, thậm chí chỉ vài nhóm, vài người. Nhóm này trông chừng nhóm kia ra có ngọt không rồi mới quyết định tới nhóm mình. Có khi quyết định rồi mà vào giờ phút cuối cùng lại thay đổi thái độ. Vả lại theo lối chui rào này đỏi hỏi gọn nhẹ, hoàn toàn bí mật như đánh đồn nên một lúc cũng không ra được nhiều.

Chi bộ tôi có Tư Phước và Bảy Minh như trên tôi đã nói. Tư Phước là đại úy đặc công vốn ở cùng trung đoàn, Bảy Minh ở mặt trận khác nhưng đã có lần gặp ở hội nghị tổng kết đánh đèo Măng Giang năm 1966 - Tóm lại lập tổ, lập chi bộ phải biết kỹ về nhau, quyết định vượt ngục lại càng cần độ tin cậy cao hơn. Chỉ cần một người chờn vờn dao động chứ chưa nói sợ hãi cung khai là cả nhóm chết theo rồi.

Chúng tôi quyết định rủ thêm hai người nữa cho đủ bộ năm để xứng một công ra. Người thứ nhất là một đại úy già đang bị chúng nó trù úm không biết đem đi thủ tiêu lúc nào. Chúng tôi muốn ông tránh trước được tai họa đó. Vậy mà ông trả lời: "Các cậu quyết định vậy mình hoan nghênh, nhưng ra được một vài mống nhằm nhè gì, ngày hôm sau chúng có cơ hành hạ chung cả phòng. Đấy là chưa kể các cậu không ra nổi, nằm chịu chết trong hàng rào. Nghĩ cho kĩ đi!". Còn nghĩ gì nữa. Tôi rủ quân y sĩ Tuyền, Huỳnh Thành Tuyền, cậu anyf cũng tốt, tỏ ra chững chạc trong mọi tình huống, ấy, chính cái cậu đã phát hiện ra thằng gián điệp mang thuốc phù nề loại quý vào trong tù đó. Hơn nữa, trong những ngày lang thang rừng núi tìm về cách mạng, nếu ra được thì sự có mặt của một y sĩ là rất cần. Nhưng cậu này cũng dội luôn: "Mấy anh coi: đèn đóm, chó, ngỗng, mìn trái dày đặc thế kia, ra không nổi đâu".

Vậy là chỉ còn có ba. Cả ba đều là dân đặc công trinh sát, cũng như trong tù thời gian này phần đông là lính trinh sát đặc công. - Ba mống hội ý đi hội ý lại, mà đâu có dễ ngồi lại với nhau bàn bạc, ngày hay đêm (ban đêm trong phòng cũng để đèn sáng trưng) chúng đều kiểm soát gắt gao, chỉ cần một dấu hiệu lạ, ngồi tụm năm tụm ba là xộc vào liền, mới quyết định được ngày ra là ngày 5, tức là ngày sinh của tôi (mồng 5 tháng 5).

Trước hết chúng tôi bỏ mười đêm thay nhau không ngủ, nằm áp tai xuống đất lắng nghe bước chân đi lại, tiếng xe lăn bánh ở ngoài xa để nắm thật chắc quy luật hoạt động của chúng. Ban ngày thì giả đò mang tú lơ khơ ra sát chân rào chơi, vừa chơi vừa dõi mắt quan sát ra khắp xung quanh. Cuối cùng có thể kết luận được cái khoảng chập choạng tối là giờ chúng lơ là canh gác nhất. "Nhất chạng vạng - Nhì rạng đông". Hồi ở ngoài thường đánh đồn vào hai khoảng thời gian này thì ở đây cũng vậy.

Còn hai ngày nữa, ba chúng tôi đồng loạt khai bệnh đau bỏ cơm. Lúc này tình hình dân sinh dân chủ do ta đấu tranh không khoan nhượng nên đã được cải thiện chút ít. Không ăn cơm, chúng cấp sữa, loại sữa đã để quá hạn trong kho quân tiếp vụ hàng mấy năm, mở ra toàn một chất lỏng đỏ quạch. Mỗi ngày ba người được nửa lon, hai ngày một lon. Ba người một lon cũng tạm đủ để làm lương khô lúc đi đường. Đường đi bao xa, lâu hay mau, phải vượt qua những trở ngại khủng khiếp nào, chúng tôi chưa biết nhưng chắc chắn rằng ở ngoài có lực lượng cách mạng. Bên trại giam Ba Toản còn có đầu đạn rớt vô để nhận biết, trại giam bên này lại dựa vô mấy tay quân cảnh đào ngũ cũng bị chúng bắt đi bửa củi chung. Họ cho biết ở ngoài có cách mạng. "Vậy, cứ nhằm hướng pháo nổ mà đi!" - Tôi nhủ thầm.

Trước khi đi một ngày, tôi chính thức báo cáo với đồng chí Hồng bí thư đảng ủy là công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Đồng chí bí thư dặn:

- Ra được người nào có lợi cho cách mạng người đó, các anh cứ yên tâm ra đi, việc ở lại nếu có gì đã có chúng tôi. Còn một hộp thuốc hồi dương tôi giấu được, mấy anh đem đi đường mà dùng, cần lắm đó.

Bịn rịn, tôi mời anh cùng ra. Anh lắc đầu, cười buồn:

- Muốn lắm! Chỉ cần ra khỏi hàng rào gai, ngắm trời ngắm đất cho đã một lần dù chết cũng cam. Nhưng tôi yếu quá rồi, không khéo lại làm phiền, làm lỡ việc mấy anh. Vả lại trong này còn có nhiều việc, tôi chưa thể vắng mặt được.

Tôi khóc và nắm chặt bàn tay trở xương của anh. Những năm tháng lao tù, những cán bộ Đảng như anh thầm lặng nhận tất cả nặng nhọc về mình, nhường thuận lợi, nhường cả khát vọng tự do cho đồng đội. Rất tiếc tôi lại không nhớ được tên họ thật của đồng chí này.

Ngoài lon sữa, chúng tôi còn được anh em lén đưa cho một lon nữa và hơn một ký cơm cháy không biết anh em phơi khô để dành từ bao giờ.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#7 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:21 AM

Buổi tối đi thì buổi trưa có người báo cho chúng tôi biết trong phòng có kẻ đang theo dõi, hãy cẩn thận. Tôi biết thằng đó. Mấy bữa nay thấy chúng tôi thường đi ra đi bô quan sát hiện trường, nó đã để ý nhưng không bằng chứng gì nên không ra mặt. Anh Bảy Minh là người tuy ở tù nhưng còn có sức vóc do sáng nào cũng tập thể dục đến vã mồ hôi nhận trách nhiệm dằn mặt nó. Đến giờ ăn cơm, thừa khi nhộn nhạo, anh siết chặt cổ tay hắn, nói:

- Thằng khốn nạn! Mày đang theo dõi cái gì? Mày có muốn đi theo cái số kiếp trâu chó của thằng bạn mày mấy tháng trước không thì nói! Tao tạm tha, từ nay tao còn thấy cặp mắt của mày láo liêng nữa là cho rớt ra ngoài đó nghe không?

Thằng này tái mặt. Nó còn lạ gì tính khí Bảy Minh, người ta đã từng dùng tay móc đui mắt kẻ chiêu hồi dạo nọ. Nó lỉnh đi nằm bẹp một xó và từ giờ đó không dám ngóc mặt lên nhìn ai nữa. Chắc đồng chí hỏi tại sao không trừ luôn nó đi để tránh hậu họa cho người sau? Khó đó. Một là nó chưa hội đủ bằng chứng, hai là gây án mạng lúc này rất bất lợi, địch sẽ phong tỏa không lọt ra được.

Chúng tôi không đi đúng ngày 5 mà chuyển sang ngày 6 để đón mưa. Đêm ấy mưa thật. Mưa rả rích không nặng hạt nhưng cũng đủ để nhòa đất nhòa trời rất lợi cho việc bò rào.

Hành trang đi đường của chúng tôi ngoài cơm khô, lon sữa ra, còn có thêm một chiếc võng tự khâu bằng bao bố đựng cá xin được của nhà bếp để phòng khi phải cáng nhau và con dao găm khá bén làm bằng cán ca USA để chống trả cá sấu nếu đúng xung quanh đây đầy cá sấu như bọn lính hù dọa.

Phòng giam ban đêm đóng cửa. Cửa cũng bằng thiếc, đóng sơ sài không có khóa chốt, có thể khéo léo nâng cậy lách mình qua được, nhưng chúng tôi khộng chọn lối ra ấy để tránh con mắt đã quen hau háu nhìn vào vách cửa của bọn gác. Chúng tôi ra bằng kẽ hở của chân tường. Kẽ hở này hẹp, chỉ rộng hơn một gang tay, người bình thường khó qua được nhưng thân xác tù tong teo chẳng khác chi con nhái, hẹp vậy chứ hẹp nữa vẫn có thể dán mình trườn qua không tiếng động, miễn là cái sọ dừa đừng kênh kênh quá!

Cẩn thận lôi cái ca đựng đầy sình đã chuẩn bị sẵn ra khỏi hốc phản, chúng tôi thay nhau trét kín vô người làm một động tác hóa trang đặc công thông thường rồi bắt đầu khởi sự.

Sắp ra hết tường, tôi quay nhìn lại phòng giam lần chót để thấy những đồng đội thân thương của mình vẫn đang nằm úp thìa, gầy guộc, rách rưới trong giấc ngủ nặng nhọc, để đón nhận ánh mắt duy nhất của đồng chí bia thư đảng ủy nhìn theo khích lệ rồi trườn tiếp qua sân. Chúng tôi không hề hay rằng đây là lần cuối cùng còn được nhìn người cán bộ Đảng chững chạc, trầm lặng và hết lòng vì anh em ấy. Khoảng sân này rộng chừng hai chục thước, trắng lốp không một ngọn cỏ, nếu trời trăng thì chịu nhưng may mắn là trời đang mưa, ánh sáng lòa nhòa, bọn gác cũng đang bận chụp áo chụp mũ tránh nước mưa tạt tứ bề nên - bằng những động tác đã được luyện tập kỹ lại dưới gầm phản mấy ngày vừa rồi, chúng tôi vượt qua không mấy khó khăn.

Bây giờ mới là công việc chính, vượt qua hàng hai, ba chục lớp rào đầy mìn trái, chó, ngỗng bao bọc phân khu và khu. Hết hàng rào của khu, còn phải lọt qua bảy lớp hàng rào toàn bộ nha tù nữa. Liệu có xong được trong đêm không hay là sáng ra còn nằm ló đuôi giữa đống bùng nhùng kẽm gai để lính nó nhặt về đóng đinh vô sọ.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#8 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:21 AM

Đã đánh đặc công trên chục trận nhưng chưa có cứ điểm nào lại có hệ thống rào như thế, nếu là mục tiêu tác chiên, chúng tôi phải bỏ ra bốn đến năm đêm mới chui qua hết. Chỉ có cái khác là trước đây bò vô, bây giờ bò ra. Bò ra có cái dễ và có cái khó của nó. Tức là người lính vượt ngục phải thực hiện một mục tiêu ngược.

Mìn trái đối với chúng tôi không ngại. Rà phá quen tay lắm rồi, dây nhợ kiểu nào cũng phát hiện ra. Nhưng còn chó, ngỗng thì thật là nan giải. Theo lẽ, muốn khắc phục ba cái con vật mắc dịch này phải vô hiệu hóa được chúng bằng cách "miễn dịch". Tức là ngày ngày phải xé quần xé áo của mình ra từng miếng nhỏ quẳng cho chúng nhai hít hoặc ráng tạo điều kiện gần gũi, kè kè da thịt vô mõm chúng để dần dần tạo cái thế quen hơi bén mùi cho khi ra. (Sau này tụi chỉ huy hình như biết thóp, chúng đột ngột đổi chó như đổi quân cảnh để chống lại khả năng "miễn dịch" của ta). Đằng này bọn tôi vội quá, không kịp huấn luyện chúng vì để chậm hơn, theo một nguồn tin của anh em quân cảnh giác ngộ cho hay, chúng sẽ lôi phân nửa số tù sang khu biệt giam khác. Trường hợp Ba Toản còn căng hơn: Nếu chỉ ra chậm một ngày thôi là cả cái tổ "cứng đầu" ấy sẽ bị gọi đi thủ tiêu.

Cái có thể yên tâm là cả tháng nay áo xống của ba thằng đã làm bộ vô tình quẳng đạo lên hàng rào phơi trước mũi chúng cả ngày lẫn đêm rồi.

Đúng như dự đoán, sau khi gỡ được mấy trái mìn, kể cả thứ mìn râu nằm sâu trong đất chỉ ngóc cái râu bằng que tăm lên trên mà khẽ ấn xuống chút xíu, nó sẽ nhảy dựng lên nổ ngang mặt, có thể cho đi tong cả một con bò khổng lồ; chúng tôi bò tới lằn ranh súc vật. Tôi bò đầu, Tư Phước bò sau, Bảy Minh bò sau nữa. Khi nào mệt, căng thẳng quá sẽ dùng chân bấm báo hiệu hãy chuyển chỗ thay cho nhau. Có lẽ do mưa rét nên đêm ấy chó, ngỗng cũng co cụm lại, lia rách mắt cũng chỉ thấy những vật thể đen sì không ngọ nguậy. Ổn rồi! Tôi nhoai người lên trước... Bỗng tôi lạnh toát khắp người. Có một cái gì đó nhờn nhờn ram ráp đang chạm vô be sườn tôi, chả lẽ chúng lại mới sinh cái trò thả rắn? Tôi nằm cứng người và nhịn thở. Cái nhờn nhờn chuyển lên lưng... lên vai... rồi lên cổ. Nhột không chịu nổi. Cùng lúc, một mùi hơi ẩm xì xộc vào mũi... Ôi chao! Một cái đầu chó bự bằng cái đầu sư tử đang há hốc miệng nóng giẫy vô mặt tôi. Mày cắn, tao sẽ căn lại rồi muốn sao thì sao! Tôi nghĩ thế và ráng im thở thêm chút nữa. Thời gian trôi qua lâu bằng cả cuộc đời. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là thời gian ngưng đọng đặc quẹo như mấy cha nhà văn hay nói. Thật hên! Có lẽ con béc giê giống Anh đã nhận ra một hơi hướng quen thuộc hoặc nghĩ rằng tôi là một xác thịt đã thối rữa nên sau khi liếm quấy lên mặt tôi một cái, nó khìn khịt bỏ đi. Dáng đi của nó đủng đỉnh giá lạnh như thần chết...

Cứ thế, gần sáng, chúng tôi đã ra hết lớp rào cuối cùng, sau khi đã gỡ thêm được non chục trái nữa. Trên đường ra chỉ có một sự cố nhỏ. Tự nhiên cả nhà tù mất điện vào lúc hai giờ. Có lẽ điện chập mạch do mưa hoặc nhà đèn hư aptomat? Vậy là chúng bắn. Khắp nơi đều bắn. Đạn xì xé nát màn đêm. Vừa bắn chúng vừa la hú: "Ê! Thằng nào kia?... Đứng dậy đi, tao nhìn thấy rồi. Ê! Thằng nào kia nữa? Thảy tạc đạn cho chết mấy thằng tù đang bò lóp ngóp kia, anh em!". Chà! Cái trò con nít đụng hoài rồi, kệ cha nó, việc mình bò cứ bò. Đèn tắt, chúng huy động các loại xe ra mặt lộ giữa rồ máy rọi đèn pha sáng quắc và trực thăng cất cánh thả hỏa châu rơi nhòe nhoẹt trên đầu nữa. Vui như ngày hội hoa đăng. Cứ lẩn mẩn nghĩ giờ này ngoài ba đứa tôi ra, liệu còn có tốp vượt ngục nào khác cũng đang nép mình nằm dưới ánh sáng đủ màu này không?

Tình trạng hỗn loạn đó kéo dài được nửa giờ đồng hồ thì đèn đóm lại bật sáng. Chúng tôi tiếp tục bò, đoạn nào lom khom, hoặc ngồi xổm, đi được thì đi. Để ra được đến ngoài, chúng tôi phải vận động không ngừng nghỉ mất gần 8 tiếng. Tám tiếng ấy chúng tôi đã trườn qu đội hình 2 khu và 4 phân khu tức là trườn chéo qua khoảng tám mươi cái nhà giam anh em mình. Bỗng dưng, đồng chí ạ, cứ ước ao đây không chỉ là một số mà là đầy đủ một trung đoàn, nhất định sẽ phá phăng cái nhà lao khổng lồ này ngay trong đêm nay.

Khi mình nằm sấp ở ngoại vi hàng rào nhìn lom lom vô trong bỗng thấy lòng dạ nhói lên. Thế là thoát! Thoát có ba thằng, liệu ngày mai chúng nó có hành hạ trả thù anh em còn ở lại không? Tự dưng ân hận cớ sao không rủ thật nhiều người cùng ra! Ra được kia mà. Thôi, đời tù ngục nó là như vậy, xin tạm biệt tất cả anh em. Theo lệ thường, sớm mai chắc anh em sẽ lấy đá ném sang khu bên cạnh có kèm theo mấy chữ thông báo khu bên này đã vượt ngục thắng lợi một tổ... Xin cảm ơn anh em đã nhịn cơm, nhịn sữa, thuốc, nhường cho chúng tôi. Cảm ơn...

Ngày hôm đó chúng tôi ém tại một lùm cây rậm rạp có sình lầy ở dưới, cách nhà tù chừng hai cây số. Hai cây số là đủ để chứng không dám mò ra đi lùng sục vì sợ trái gài của du kích, và chúng tôi cũng không thể đi xa hơn vì trời sáng mất rồi.

Một ngày ngồi thu lu thần kinh căng thẳng, gạo sữa mỗi người chỉ dám nhấm nháp một chút nhưng thấy thấm thía vô cùng cái nghĩa của tự do.

Sẩm tối, chúng tôi nhằm hướng Bắc đi tới. Tại sao lại hướng Bắc? Cả hòn đảo này, chỉ có hướng Bắc là lắm núi nhiều rừng, mà ở đâu có nhiều núi rừng là ở đó có căn cứ cách mạng. Tôi suy đoán áng chừng vậy và cương quyết cắt đi.

Đi được một lúc thì đụng một cửa biển. Nếu không nhầm thì đây là cửa Cầu Sấu như tụi lính kháo. Men theo bờ lại sợ vướng đồn, cả bọn quyết định đi tắt qua cửa biển bằng cách bẻ củi khô ghép thành bè. Chà! Bè mới trôi được một đoạn thì đã nghe tiếng sấu đập đuôi ùm ùm khắp xung quanh. Kệ nó, miễn là không rớt khỏi bè và bè không bị chúng phá tan. Mà dù có tan cũng không sao. Mỗi người đã có một con dao găm inoc sẵn sàng ăn thua với chúng, xá gì. Chết ư! Cũng được thôi, kinh khủng thật nhưng còn ngàn vạn lần hơn chết tức tưởi trong tù. Sự vũng tin pha một chút bất cần này đã khiến chúng tôi tạo được sự tỉnh táo cần thiết để tiếp tục vục tay xuống khoát nước thay mái chèo. Tiếng sấu quẫy thưa vắng dần. Kỳ thực đó là tiếng sóng vỗ vào hốc đá chứ không phải là tiếng sấu đập đuôi, bởi lâu nay nghe bọn lính hù dọa mà chúng tôi tưởng tượng ra sự rùng rợn như vậy.

Đi được chừng hai cây số thì ai nấy đã thấm mệt, nhất là khát, chịu không nổi, Tư Phước bụm tay uống mấy vốc nước mặn. Lạ chưa? Không rõ bụng dạ trong tù ăn uống tồi tệ thế nào mà mới chạm nước biển một chút là ông ỉa chảy liền. Chảy dữ dội, chỉ thoáng chốc toàn thân đã rũ ra như tàu lá héo. Tôi vội khui hộp thuốc hồi dương của đồng chí cán bộ Đảng đưa cho nhét vô miệng Tư Phước! Mấy phút sau cơn đi chảy cầm được.

Thêm một tiếng nữa thì đụng bờ. Chèo qua ghềnh đá vô sâu trong rừng thấy có lán trại, cọc cành đã mục, mừng lắm. Vậy dứt khoát có người của ta. Bọn lính không có lối ở lán trại kiểu này. Phấn khởi xóa dấu chân hăm hở đi tiếp. Vẫn men theo bờ đi về hướng Bắc. Đi lò dò từng đoạn để lắng nghe động tĩnh. Cái sợ nhất lúc này là đâm đầu vô lính. Sáng ra vội tạt vô rừng. Gặp mạch nước trong, cả ba chúi đầu chúi cổ làm một bụng no tròn. Thỏa thuê rồi trèo lên chạc cây ngắm biển, ngắm mặt trời lên mà ngây ngất cả người. Mang tiếng là tù đảo nhưng ra đảo đã lâu rồi, có bao giờ được nhìn cảnh biển cảnh trời hùng vĩ dường này!

Rừng rậm kính bưng. Yên bụng lăn ra ngủ. Một thức hai ngủ. Chưa bao giờ có một giấc ngủ giữa rừng ngon lành đến thế. Trưa tỉnh dậy, bụng đói cồn cào. Lại lấy cơm khô nhấm nháp vài miếng rồi uống nước cho cơm trương lên. Một cân cơm ấy, mỗi người chỉ cần táp mấy miếng là sạch trơn nhưng đâu dám. Phía trước còn bao nhiêu ngày lặn lội nữa, ai mà hay. Thấy cây cám, mừng quá, nhảy lên trèo hái đầu một chiếc quần lót để làm lương khô dự trữ. Riêng hộp sữa dở, chỉ dám cho Tư Phước mút hai mút rồi đóng lại. Nhìn cái miệng cậu ấy chóp chép còn thèm mà thương quá!

Nắng dịu, cặp rừng đi. Cả ba gần như trần truồng, thân hình chỗ đỏ chỗ đen dòm như ba gã người rừng trong phim truyện của Pháp hồi đi học có được xem.

Gần tối, phát hiện thấy một chiếc thuyền cây từ ngoài khơi đang đi vô. Tưởng là thuyền đánh cá của dân, tính khoát tay gọi vô xin đồ ăn và hỏi thăm, quá giang nhưng thoáng thấy màu áo lính lại thụt vô. Đây là con tàu tuần tiễu biết đâu đang đi đón lõng mấy thằng tù vượt? Đi tiếp. Trong ráng chiều chợt phát hiện ra ba chút sứa đang bị sóng triều dềnh lên dềnh xuống ven bờ cát. Đến gần nhìn kỹ. Một màu đỏ mọt màu tím và một màu trắng to bằng bàn tay. Mới cầm vô cái thân mềm mềm ấm ấm của nó, nước miếng đã muốn nhểu ra. Thèm quá! Vội bứt lá rừng, loại lá sức cạnh cắt nhỏ từng chú ra thành những miếng hình quân cờ béo ngậy, sau đó anh em lấy nhúm muối đã xin được trong bếp tù ra bóp bóp, nắn nắn, và ăn, ăn lấy ăn để... Chưa hết một miếng, cả ba đã nhổ phì phì. Nhổ hết mà lưỡi vẫn ngứa cong lên. Bảy Minh hụp miệng xuống biển súc sùng sục, vẫn ngứa. Tư Phước thò tay vô miệng muốn móc họng ra... Đến là khổ! Sau mới biết: loại sứa xinh xẻo bằng bàn tay là sứa lửa, ăn vô có khi chết. Vậy mà không hiểu sao chugns tôi chỉ bị ngứa lưỡi thôi.

Trời còn chạng vạng, tranh thủ đi tới nữa. Gặp con suối nhỏ. Mò bì bõm hồi lâu không bắt được con cá nào. Tôi chộp được mấy con tôm bằng ngón tay út chia đều ra. Con tôm còn đang nhảy nhảy, bẻ qua râu càng rồi nhét tọt vào miệng, đệm thêm hạt muối, nhai bã ra rồi mới nuốt. Chao! Ngọt như sâm, thịt tôm chảy tới đâu, thân thể giãn ra tới đó.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#9 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:21 AM

Lại thay nhau đi trước đi sau. Đến lượt Bảy Minh dẫn đầu. Tội nghiệp, một mắt sáng, một mắt vảy cá không nhìn thấy gì nhưng cái dáng vẫn đi phăng phăng. Trời sụp tối, chợt nghe tiếng con nít khóc ở đâu đây. Cả ba lặng người, không đi nổi nữa, chân tay nhủn ra. Bao nhiêu năm chinh chiến, lại mấy năm tù đày toàn máu me, chết chóc. Tiếng con nít khóc đêm nay kéo ngược đầu óc chúng tôi về những mơ ước bình dị nhỏ nhoi đến trào nước mắt. Trái tim người lính chiến trận tù đày tưởng chừng đã chai lì mốc mác vậy mà một góc sâu xa nào đó vẫn còn nhiều yếu mềm đến thế.

Tư Phước được đào tạo chính quy, vốn là tay có đầu óc tham mưu khá nhạy nên phán đoán đây không phải là ấp chiến lược mà là tiếng con nít khóc trong đồn. Hỏi tại sao! Anh trả lời: "Chả có ấp chiến lược nào chúng lại khờ khạo lôi ra tận mép biển để Việt cộng dễ đột nhập như thế này".

Nghe phải, chúng tôi xắn vô rừng chừng một cây số rồi lại nhằm hướng Bắc mà đi. Bỗng rầm một cái thấy Bảy Minh ngã sấp ngửa trong đám dây nhợ lằng nhằng. Chạy lại mới gỡ ra được, bấm nhay lui lại một đoạn mới thấy hú hồn hú vía. Mắt vảy cá nhìn không rõ, anh chàng đã dẫn tổ nhào vô chúng hàng rào đồn địch (sau này biết là đồn Hàm Ninh). Lại lùi thêm mấy trăm mét nữa. Xung quanh rừng lá kín bưng, hết thấy đường bèn bảo nhau mắc võng ngủ đại rồi tính. Mệt rã rời, đói nữa nhưng không ai ngủ được. Nằm nghe muỗi vo ve và tiếng radio văng vẳng mà biết rằng trời chưa đến nỗi thật khuya và kẻ thù đang ở sát gần nhưng mệt quá, thây kệ. Gần sáng thiếp đi được một lúc, lúc choàng mắt tỉnh dậy thấy lô cốt địch xù xì đập ngay vào mắt. Không còn kịp định hướng nữa, ai nấy quáng quàng cuốn một cục võng rồi tông qua con suối sau lưng rộng chừng mười lăm mét (sau này mới rõ đó là suối Hàm Ninh). Hết suối, chạm một cục rừng nữa. Ló ra bìa rừng nhác thấy một trảng cỏ tranh xanh tốt và ở giữa có một con lộ đất đỏ khá rộng chạy qua. Lúc ấy ai đâu biết đó chính là con lộ chạy ngang đảo nối Hàm Ninh với Dương Đông dài 14 cây số. Đang phân vân chợt phát hiện một đám tám cô con gái mặc quần áo đủ màu đạp xe phấp phới đi về phía đông đường, chắc là đi chợ thị trấn, vì dáng xe đạp hối hả lắm, lại thêm túi tắm, quang sọt buộc lỉnh kỉnh đầy ghi đông. Đang trong tình huống lưỡng nan nguy hiểm mà cả ba người cứ đứng ngẩn ra. Lâu lắm rồi mới lại được nhìn thấy bóng dáng đàn bà con gái rõ như thế này. Và tưởng không bao giờ còn được nhìn thấy nữa! Năm đó tất cả còn trẻ, tôi chưa đến bốn mươi tuổi, còn hai người kia mới độ tuổi ngoài ba mươi. Những cái bóng dáng thanh bình ấy thật trái ngược với những tháng ngày u ám vô vọng của chúng tôi vừa trải qua. Bảy Minh là một con người vui tính và hay mơ mộng nói thì thầm:

- Trời ơi! Chỉ cần một lần được nhìn thấy những hình ảnh kia là có chết cũng nhắm được mắt.

Nhưng cả con mắt vảy cá đó và những con mắt của chúng tôi đều phải mở ra để chạy ù qua lộ. Mới qua khỏi được chục mét, hai cái bóng trắng đàn ông ở đâu đột ngột ngóc lên trước mặt khiến cả ba vội nằm bẹp xuống. Thấy hay không thấy? Chúng tôi đưa mắt hỏi nhau nhưng không ai trả lời được cả. Cuối cùng vẫn Tư Phước nhận định: "Nếu thấy dứt khoát họ sẽ đi nhanh hơn hoặc bỏ chạy. Nếu họ vẫn đi bình thường thì tức là chưa thấy gì hết!". Tôi trèo lên cây dõi theo, hai cái bóng trăng trắng vẫn chuyển động bình thường về phía rừng chứ không phải về phía bốt. Chắc họ đi bẻ củi về chụm, vậy thôi.

Khoảng giờ Ngọ, đảo mắt khắp nơi thấy vắng tanh, đồng không mông quạnh, chúng tôi mò ra tận mặt lộ. Một tấm bảng gỗ cắm bên lề đường có ghi: "Hỡi anh em bĩnh sĩ! Đi càn quét chớ phá hoa màu của nhân dân". Chữ của ta, của anh em cách mạng rồi. Mừng quá phán đoán thêm: Mặt bảng có chữ dứt khoát là hướng địch, lưng bảng phải là phía ta. Chúng tôi nhằm hướng lưng bảng gỗ cắt đường đi tiếp. Được một đoạn, thụt giò xuống công sự mới đào, đất còn đỏ tươi, càng chắc trong bụng. Chỉ có công sự của ta mới đào kiểu có nắp thế này. Công sự của địch thường đào lỗ tròn, nông hơn chỉ dùng để tránh đạn chứ khỏi cần phải sụt lút đầu người để tránh được cả bom lẫn pháo như ta. Nhưng cũng chính trong cái công sự xâm xấp nước ấy, anh chàng Tư Phước lại giẫm phải một con rùa đang nằm thoi thóp. Vốn dân tộc Tầy nhưng Tư Phước lại duy tâm, tỏ ra lo lắng: "Gặp rắn thì đi, gặp quy thì đừng! Sao bây giờ?". Bảy Minh quạu: "Rắn, quy gì cũng đi ráo, miễn là đừng gặp địch".

Đi tiếp một đoạn nữa thấy hai bóng người một già một trẻ đi qua. Ông già cầm hai trái tạc đạn M26, người trẻ đeo cây súng K44. Chút xíu nữa tôi đứng thẳng người dậy vì cây K44 đó. Loại súng cổ lỗ sĩ địch làm gì có, chỉ tồn tại trong hàng ngũ của ta. Nhưng câu nói: "Con vừa được phong thiếu úy, chú Năm" của người trẻ tuổi khiến tôi sựng lại. Trong cách mạng chỉ gọi trung đội bậc phó, trung đội bậc trưởng chớ ai kêu úy úy tá tá? Không ổn rồi! Coi chừng bọn biệt kích giả dạng. Giả dạng nên mới mang súng đàng mình. Chúng tôi khe khẽ lộn trở lại trảng tranh nằm chờ. Chừng mặt trời sắp lặn, tám cô gái đi chợ về, tiếng nói cười râm ran cả khoảng không gian tĩnh mịch. Tư Phước bàn phải bắt được một cô để khai thác. Vốn là sĩ quan quân báo kiêm đặc, Tư Phước rất thành thạo trong việc bắt "một cái lưỡi" như thế này nhưng hiềm một nỗi cả tám cô điều đi dính với nhau, không thể tóm riêng một cô được. Cả ba tên tù vượt ngục nhìn họ qua dần mà tiếc rẻ! Đúng lúc đó Bảy Minh phát hiện ra bóng hai cô nữa đang lặc lè đạp bằng đằng sau cả đám một quãng xa. Đây thuộc tốp khác và chắc là một tốp can đảm vì trời chiều mấy ai dám đạp xe lẻ loi trên con lộ giáp ranh ta địch thế này.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#10 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:22 AM

Chúng tôi ra tay... Chớp mắt, hai cô đã ngồi gọn trong lùm cây rậm, bạc mắt nhìn chúng tôi, toàn thân run như thằn lằn đứt đuôi, một trong hai cô nước mắt nước mũi giàn giụa. Chắc hai cô nghĩ rằng mình đang rơi vô tay ma quỷ chớ không phải người. Tôi không xưng mình là tù vượt ngục, lấy giọng thật ôn tồn hỏi:

- Xin hai cô đừng sợ. Chúng tôi là những người dân đi làm ăn từ phương xa tới, đến đây bị lạc đường, lại hết lương ăn, muốn hỏi đâu là vùng tự do, đâu là vùng bất hợp pháp để còn biết lối mà đi tiếp, không lại rầy rà chuyện tên bay đạn lạc của hai bên.

Cô lớn tuổi hơn nhìn chúng tôi nghi ngờ. Mà nghi ngờ là phải. Vì có cái thứ dân làm ăn nào mà lại toàn thân ghẻ lở, da bọc xương như chúng tôi - Nhưng cô vẫn run rẩy chỉ tay về phía trước:

- Vùng giải phóng của mấy ông Việt cộng ở đây kêu là vùng bất hợp pháp. Vùng mấy ông quốc gia kêu là vùng tự do. Vùng này nè!

Chúng tôi cảm ơn, xin lỗi một chập, lấy xe ra trả rồi bấm nhau đi ngược lại phía "vùng tự do" như cô gái nói. Nếu hai cô này đi luôn thì có nghĩa là thông tin đó đúng. Còn ngược lại, hai cô rắn độc này có thể bươn bả kêu lính ra bắt lắm chớ. Chờ hoài chờ mãi... Quả nhiên một lát sau hai cô đi trở lại với hai người đàn ông, nhưng hai người này không phải là lính mà lại chính là ông già và anh con trai đeo K44 hồi trưa. Chúng tôi nín thở. Một cô gái giơ tay chỉ. Ông già đi về phía chỗ chúng tôi đang núp, tay lăm lăm lựu đạn. Chúng tôi vẫn im lặng. Tới gần, ông già đưa tay lên miễng khẽ gọi:

- Cách mạng đây!... Cách mạng đây! Anh em tù binh vượt ngục hãy ra đi, hãy ra đi!

Tiếng gọi da diết dữ lắm. Tôi nói nhỏ: "Cứ ra, nhưng cảnh giác áp sáp từng người, nếu cần ta thẳng tay!". Và thứ tự từng người rời khỏi bụi rậm.

Ông già nắm chặt tay chúng tôi và mời thuốc Báttô. Tôi thì không cầm, mặc dù thèm lắm! Ông già cười thật hiền:

- Mấy chú nghi Báttô của lính hả? Không có sao, thuốc gì thì thuốc miễn là có cái hút là được. Nói giỡn chơi, thuốc đây của chú em này phục kích lính đêm qua lấy được.

Ông già tay vỗ vai người trai trẻ. Anh này cười rất tươi. Hai cô gái cũng cười. Tới lúc ấy chúng tôi mới vội ngồi thụp xuống, vì chợt nhớ ra trên thân thể cóc cáy của mình hầu như không có miếng vải nào cho ra vải để che thân. Hai cô gái kín đáo quay đi, nước mắt rơm rớm. Chà! Điếu thuốc Báttô nặng vậy mà tôi chỉ lõm má rít bốn hơi là hết. Thở khói ra thấy đất trời đảo điên, tan loãng. Lúc đó tôi muốn nhái lại câu của Bảy Minh: "Lúc này chết được rồi!".

Đêm hôm đó sau ba ngày lặn lội, chúng tôi thả mình trên nệm lá ngủ một giấc ngon lành. Ba ngày... nếu biết đường, chúng tôi chỉ phải đi ba tiếng. Cũng còn may, sau này đám Ba Toản, đám Hai Hồng phải lang thang hết mười ngày, mười lăm ngày mới đụng căn cứ.

Sáng hôm sau ông Năm Tiên (chính là ông già cầm tạc đạn) cán bộ xã Hàm Ninh cùng anh con trai đưa chúng tôi về căn cứ. Tò mò hỏi cớ làm sao anh lại kêu được phong thiếu úy? Anh cười, vẫn nét cười thiệt là tươi: "Kêu cho vui. Vì trung đội trưởng phiên ra cũng bằng thiếu úy - Vậy thôi".

Chưa kể đến căn cứ, chúng tôi gặp đồng chí chính trị viên huyện đội dẫn một tiểu đội đi nghiên cứu chiến trường. Đó là anh Năm Sĩ. Gặp chúng tôi anh mừng lắm. Vỗ vai một người khỏe mạnh, nước da trắng xanh cùng đi, anh nói:

- Đây là đồng chí Thủy, cũng là cán bộ đặc công vượt tù ra tháng trước. Giờ thêm ba ông đặc công nữa, ngon rồi! Huyện sẽ thành lập một phân đội đặc công được rồi.

Đó là lý do dẫn đến những năm tháng sau này tôi được phân công làm đội trưởng, Tư Phước là chính trị viên đội đặc công đầu tiên của đảo. Có giai đoạn hoán vị ngược lại. Vậy thôi, đồng chí ạ! Chuyện tù đày xưa cũ quá rồi, tôi kể như thế cũng là nhiều. Sang năm. Nếu rảnh, mời đồng chí lại đây ta nói chuyện khác, chuyện làm ăn, chăn nuôi, trồng trọt cho đỡ nặng cái đầu. Khi đó chắc cái công trình Hồ Gươm của tôi xong rồi. Ta sẽ ra giữa hồ, ngồi ở chính tháp Rùa của tôi nhậu lai rai. Hỉ?...

Tôi cười và gật đầu lấy lệ cho ông vui lòng. Khốn khổ! Cái nghiệp chữ nghĩa văn chương có phải lúc nào muốn đi là được đi đâu. Có những mảnh đất đặt chân đến một lần, có những con người ta gặp một lần rồi không bao giờ có dịp gặp trở lại nữa.

Tôi hỏi ông về Ba Trân. Ông trả lời cũng giống như nhiều người rằng có nghe nói nhưng chưa lần nào trực tiếp được gặp. Ông hỏi lại tôi sao cứ Ba Trân... Ba Trân hoài vậy? Tôi nói đang đi tìm một người đứng đầu Đảng trong tù vì vô lý khi cả một cái nhà tù bốn chục ngàn người ấy lại không một đường dây lãnh đạo. Ông ậm ờ và nói tôi cứ thủ đi tìm xem chứ theo chỗ ông ta là người trong cuộc thì ba cái chuyện này khó lắm.

Tôi lại định hỏi ông về Quang, người chồng của bạn vợ tôi nhưng không cất nên lời. Câu chuyện bốn giờ đồng hồ ngược về dĩ vãng đã khiến ông mệt mỏi lắm rồi, có hỏi thêm chắc ông cũng không nhớ được gì? Ngay như anh Hồng, có người bảo đó là một phó tư lệnh quân khu, một cán bộ đảng chững chạc như thế còn chưa biết đúng hay không, huống chi là một trung úy Quang nào đó. Vâng! Nhất định trước sau tôi cũng sẽ hỏi bằng ra, cũng như câu chuyện nhà lao Cây Dừa này có biết bao nhiêu câu hỏi đòi được trả lời!

Tôi thầm hứa với người đàn bà tội nghiệp ấy như vậy.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#11 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:22 AM

Đáng lẽ trong chương này tôi sẽ chuyển sang một khu giam khác, một cách thức vượt khác nhưng không hiểu sao tôi chưa thể dứt bỏ được hình ảnh anh Ba Toản, với khu giam hạ sĩ quan của anh. Bốn mươi hai lượt người ra là bốn mươi hai lối ra khác nhau, lượt ngày không thể thay thế được lượt kia, nó chỉ có tác dụng khơi sâu và bổ trợ mà thôi. Hy vọng rằng lối ra của nhóm anh Ba Toản và lối ra của ông Cáp Đình Hội tuy tưởng chừng giống nhau, song nó lại tồn tại hoàn toàn độc lập. Vì vậy, giống như trong cuộc sống xô bồ tôi đâu có dám đi tắt được chuyện đời.

Đúng như ông Hai Hội nói, nếu nhóm của Ba Toản chỉ ra chậm một ngày thôi thì bữa sau, chính Ba Toản sẽ được kêu đi thủ tiêu. Nguyên do là một mâu thuẫn nội bộ đã để lọt vào tai địch.

Thoạt đầu Ba Toản chỉ quyết định rủ có ba người, hay nói cách khác là chỉ thu nhận có ba người: Anh Hoạch, trung đội trưởng pháo và anh Tiến, người cùng quê với Hoạch. Ba người cho một cuộc vượt tù là gọn, là đã hiểu nhau, tin nhau qua bao thử thách trong tù, mặc dù đoán biết anh là lính đặc công có hạng, không ít người đã lần mò tìm đến anh xin được cùng ra. Thật là trớ trêu và thú vị. Trong trận mạc, người lính đặc công được yêu tin nhất, kẻ thù run sợ nhất và chiến đấu cũng gian nan khổ ải nhất, nay trong tù ngục, anh chiến sĩ đặc công vẫn đứng đầu sóng ngọn gió gánh tiếp cái chức phận tinh nhuệ nhọc nhằn của mình trước vận mạng và sự sống của đồng đội. Tức là anh, dù muốn hay không cũng phải là người đứng tên. Đứng tên đồng nghĩa với cái chết nếu kẻ thù phát hiện ra. Phải chăng chính vì thế mà người muốn ra thì đông nhưng người dám đăng cai mạng sống của mình lại dường như không có ai.

- Trong tù nó khó thế đấy anh ạ!

Anh Thu, người cùng ra với anh Ba Toản nói trong hơi thuốc lào phả ra thơm nồng gian nhà ngói, người mà mấy tháng sau tôi mới tìm gặp được ở một xã xa đường quốc lộ thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Chính Thu đã kể cho tôi nghe phần chuyện này vì sau khi gặp ông Hai Hội xong, quay trở lại Khu Tượng tìm gặp Ba Toản thì tôi lại được chị Ba trả lời anh đã lên rẫy mấy ngày rồi.

-... Muốn làm được một cái gì đó dũng cảm, một cái gì đó vì mọi người là phải giấu giấu, giếm giếm như làm điều phi pháp - Anh Thu nói tiếp.

Bằng vào những lời kể đứt đoạn, chắp nối của Thu, con người tàn tật đã về hưu, tôi hiểu rằng đợt ra ấy không phải chỉ có ba mà là sáu người. Mà kỳ lạ! Những tù binh dũng cảm ấy, hôm nay may mắn còn sống sót cho tôi có dịp được gặp thì hầu như tất cả đều chung nhau một số phận khá hẩm hiu là về hưu.

Ba người: Toản, Hoạch, Toán, khi sắp ra lại thêm Minh, quê Lái Thiêu, Dũng, Ninh Bình và Thu. Riêng ông Xạ, tổ trưởng tổ tù mười người do giám thị chỉ định cũng có ý nghĩa sáp nhập nhưng cung cách lại ngần ngừ. Ông Xạ đã ba lần tìm đường ra nhưng đều không lọt, bị đánh lên đánh xuống nên đâm sợ, kiểu chim ngại cành cong.

Chính sự ngần ngừ của ông đã bị một số người cầu an khai thác. Sau Mậu Thân số cầu an này càng nhiều. Họ chán chường mất tin ở cách mạng, họ đổ lỗi cho Đảng đem con bỏ chợ, đổ lỗi cho lãnh đạo thiếu chiến lược tinh tường để lính tráng bị dìm trong biển máu. Họ than thở oán trách và họ nói với ông khuyên bảo Ba Toản và mấy người kia thế nào chứ hành động phiêu lưu như vậy chỉ thêm làm khổ nhau. Ý họ muốn nói, ra đã không được mà hôm sau bọn giám thị có cớ để cúp cơm, cúp nước, phơi nắng, phơi cát cả phòng, tội lắm! Có người hèn nhát hơn còn nói: "Nếu Ba Toản muốn ra thì để mặc một cậu ấy ra. Đừng coi mình là đặc công đặc quét mà muốn làm gì thì làm. Hàng trung đoàn đặc công ngoài kia còn bị đánh tan, loe nghoe mấy đứa ra để làm gì?". Người trong nhóm Ba Toản nghe được cự lại, tiếng bấc tiếng chì đâm ra xúc phạm nhau, truy chụp đủ thứ lập trường tư tưởng nọ kia. Thậm chí Thu đã có bận siết cổ một bạn tù vào sát chân tường mắng là đồ phản bội, đồ hèn nhát, cần phải cho một bài học nhớ đời. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của một đồng chí cấp ủy bí mật thì chắc chắn án mạng đã xảy ra. Nhưng sự điều hành của cấp ủy không đủ để ngăn chặn câu chuyện vượt ngục lan tới tai bọn giám thị. Chúng họp bàn, chúng tính gài bẫy để chụp một mẻ lưới thật gọn, qua đó tìm ra kẻ cầm đầu xách động và cấp ủy bí mật.

Nhưng chúng đã chậm chân. Một lính quân cảnh đào ngũ bị bắt lại, do bị đánh đập tàn bạo quá, bữa sau dựa vào việc phải đi dọn hố xí cả tháng đã bí mật báo cho ta. Và ngay đêm đó tổ sáu người kịp thời hành động. Trước giờ xuất phát, Ba Toản chính thức ra lại quyết tâm của tổ bốn người ông Xạ một lần nữa: "Nếu ông quyết thì đi theo luôn, còn không thì phải dứt khoát". Ông Xạ lắc đầu: "Đi đi! Mình ba lần rồi! Đã bị bẻ ngang ngón chân thành chân giao chỉ ba lần rồi! Mệt rồi! Lần này bị nữa thì chúng chặt đầu".
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#12 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:23 AM

Khác với kíp ông Hai Hội phải bôi đen người để nhòa vào màu đen cây cỏ, ở khu giam nhiều cát trắng nên Ba Toản cho anh em ngụy trang bằng nọ nồi pha đất sét để tạo thành màu trắng nhờ nhờ. Và cũng khác với cách thức phơi sương cho hết mùi của ông Hai, Ba Toản giúi cho anh em mỗi người một củ tỏi xin được của nhà bếp, đập nát xát vào người để làm phương thuốc tránh chó.

Có lẽ tôi xin dừng lại ở đây một chút nói về nghệ thuật ngụy trang của lính đặc công mà cho mãi đến tận bây giờ, các thế lực thù nghịch vẫn không tài nào hiểu nổi và vẫn trở trở thành một huyền thoại trong tâm tưởng những người hâm mộ. Qua đó mới thấy hết được giá trị và công sức của một hành vi vượt tù.

Thực ra nó rất bình dị. Bình dị như đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

Đặc công là gì? Nó không phải cái gì khác ngoài sự gan lì và kiên nhẫn. Gan lì để một người tiêu diệt được mười người, một trăm người. Kiên nhẫn để vượt được mọi chướng ngại, chui sâu vào gan ruột kẻ thù.

Một trong những bí quyết để tạo nên cái hợp chất lì lợm và kiên trì đó là nghệ thuật ngụy trang. Đặc công là đánh giặc trong đêm, là trần truồng tác chiến, là hy sinh thâm lặng, hy sinh đen đúa không quần không áo. Dựa vào ánh sáng trời, vào địa hình đất cát, đường băng, ánh đèn mà pha mình cho thân hình mình nhòa vào cây cỏ, chìm vào đất đai quê mẹ, lẫn vào bóng đêm thân thương. Ngụy trang thông thường bằng phần than của pin đèn nhào với lá khoai lang. Bọc nhọ này sẽ được hụm vào tay thoa vằn vện lên trên khắp thân thể, làm sao cho giống y sì một vạt cỏ, một be đất mỏng, làm sao cho đồng đội đứng ngay cạnh anh cũng không nhận ra anh. Và cái vạt cỏ, be đất hiền lành đó sẽ lặng lẽ trườn dịch từng phân, trườn dịch như không trườn gì cả qua hết lớp rào này đến hết lớp rào khác vào trung tâm kẻ thù. Thế là đặc công. Ban đêm ngụy trang xong, bạn bè chỉ nhận ra anh qua cái khẩu hình cười - Đó là nơi duy nhất còn để trắng bởi chăng khi bò có ai dại gì mà ngoác miệng ra cười mà phải bôi đen luôn cả răng lợi - Cái khẩu hình ấy mở ra rộng hẹp, méo tròn là biết thằng ấy là X hay là Y...

Trở lại cái đêm ấy.

Do được chuẩn bị kỹ, cộng hưởng thêm vào cái quyết tâm sinh tử: "Đi hay là chết" nên chuyến ra 6 người cũng khá trót lọt.

Bạn đọc có thể nhớ lại chuyến ra của cánh ông Hai Hội để tạm hình dung chuyến ra của cánh Ba Toản này. Chỉ khác có một điều: Cánh Ba Toản sắp vượt hết hệ thống rào thì bỗng đèn pha các cỡ bật sáng rực trời và súng các loại nổ vang lên ngay sát phía sau. Nổ lâu lắm! Trong tiếng nổ xen lẫn tiếng hò hét, tiếng động cơ xe rú máy, tiếng chó tru man dại và dường như có cả tiếng la hoảng thất thanh ở đâu đó. Cả tổ lặng người đi. Giây phút đầu tiên, tất cả đều nghĩ số phận mình đến đây là chấm dứt. Thế là lộ! Đạn đang đuổi theo, quân cảnh đang xô đến... Chỉ lát nữa thôi, cả 6 người sẽ tan tành thân thể và sớm mai, khi mặt trời lên, bọn ác ôn sẽ nhặt họ lên như nhặt những miếng giẻ rách đẫm máu. Có người nấc lên đau xé, có người té đái trong quần, lại có người lầm rầm niệm Phật hay cầu Chúa gì không biết nữa, chỉ thấy ánh mắt ngước về cõi xa xăm mơ hồ... Riêng Ba Toản vẫn tỉnh táo. Anh phán đoán: Nếu lộ thì đạn sẽ xối ngay giữa đội hình và chó sẽ xồ đến trước hàng loạt các tiếng động chứ không phải cái chết đến mơn man vòng ngoài hoài thế này. Trong giây lát, anh đã định kêu tất cả cứ bươn lên. Bươn lên dù có trúng mìn, dù có ăn đạn chết gục xuống hàng rào còn hơn chết thê thảm trước miệng cười khoái trá của chúng nó và trước những anh mắt nhìn ai oán của đồng đội. Nhưng cũng chính lúc đó một tiếng reo bật lên sằng sặ: "Đ.mẹ! Năm thằng, lại năm thằng này. Bắn bỏ cho rồi. "Đã khiến anh tĩnh trí lại. Sao lại năm? Tổ anh 6 kia mà. Hay là... một suy nghĩ lóe lên chạy lạnh xương sống! Hay là... Năm người hồi tối của ông Xạ? Nhìn ngoái lại đắng sau: Những bóng đen đội mũ sắt đang đứng lố nhố xung quanh môt cụm rào ở xa xa... Thôi đúng rồi! Cánh ông Xạ thật rồi! Tội nghiệp Cúi đầu giây phút làm một động tác gần như mặc niệm, anh cắn môi dẫn đầu đoàn người tiếp tục bò ra... Ba lớp rào còn lại trước mặt đối với anh thật là thơi thoáng nhưng lòng anh lại trĩu nặng.Hình ảnh và con người ông Xạ bám níu lấy đầu óc anh, giữ chặt.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#13 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:23 AM

Ông Xạ... con người đầy bản lĩnh và đầy yêu thương cùng bị giam với anh từ những ngày ở Hố Nai, Biên Hòa chỉ do một phút đắn đo vị kỷ mà rồi không rõ số phận sẽ ra sao?
Lần thứ nhất, chưa thật tin ở anh, ông cùng với hai người nữa lẳng lặng ra một mình. Thiếu kiên trì nghiên cứu và thiếu cả kỹ thuật đặc công, họ bị bắt lại. Phải bò ngửa trên cát nóng hàng trăm vòng quanh sân cho đến ngất xỉu, đó là hình phạt đầu tiên ông phải trả.
Lần thứ hai, chưa kịp hành động, ông đã bị tố giác. Lần này chúng bắt ông đi khiêng gỗ suốt một tuần liền với hai bàn chân đã bị bẻ ngoẹo ngón cái "cho hết chạy" như chúng nói. Cây gỗ bốn người khiêng, chúng bắt ông vác một mình. Đi nhanh thì không sao, kiệt sức đi chậm là chúng đánh thẳng hèo vào đầu gối cho quỵ xuống luôn. Một tuần trôi qua, ông không chết nhưng người không còn ra hình thù gì cả, cái lưng còng gập xuống, bước chân đi run rẩy thỉnh thoảng lại vấp ngã chúi xuống một cái. Chúng muốn ông chết nhưng nhờ sức chịu đựng kỳ lạ của thân thể một thời đi biển sóng to gió lớn, ông lại không chết. Được! Không chết càng hay. Chúng muốn biến ông thành thằng què, thằng gù để làm nhân chứng sống răn đe người khác. Nhưng chúng không ngờ rằng cái thân hình nửa sống nửa chết ấy nửa tháng sau lại tìm cách trốn nữa. Trốn một mình. Trốn như một sự mộng du ma đưa lối quỷ dẫn đường.
Lần này ông không bị lộ, chúng cũng không ngờ phát giác được ông nhưng sức tàn lực kiệt, ông nằm ngất đến sáng ngay giữa vòng rào. Đáng lẽ đời ông thế là hết, nhưng sự giận dữ của chúng đã chuyển thành kinh ngạc, từ kinh ngạc chuyển tiếp thành tò mò. Từ tên giám thị giết người không ghê tay đến tên chỉ huy đại đội quân cảnh đều muốn theo dõi xem cái vật thể dị dạng kia sẽ còn hành động đến thế nào nữa. Do vậy, thay vì nhanh chóng thủ tiêu, tên giám thị chỉ bắt ông đứng úp mặt vào tường, đưa miệng ra cái khuôn tròn của vì sắt rồi dùng thước kẻ bằng đồng hình vuông khẻ gãy đủ ba cái răng cửa. "Trốn một lần... Lấy đi một cái này! Trốn hai lần... Tao lấy đi hai cái này! Trốn ba lần...". Cứ vậy, sau mỗi tiếng "này", hắn lại kê đầu thước vào một chiếc răng và dùng lòng bàn tay kia vỗ cái bộp vào chuôi thước. Cắc! Tiếng thước gõ vào răng khô gọn và chiếc răng rơi xuống cũng khô gọn không kém. Mỗi lần chỉ rơi đúng một chiếc, đầu thước không bao giờ gõ lẹ sang chiếc thứ hai. Người tù khu giam ở đây đều gọi hắn là "Hung thần thước kẻ". Tên hung thần khẻ răng có cả một cái bao cát đựng đầy nhóc răng tù này không ngờ rằng con người già cả, mồm miệng nhòe máu và dãi dớt kia lại vẫn quyết định vượt ngục lần thứ tư.

Và lần này cũng không lọt. Sau đó Ba Toản được biết tiếng súng nổ ồn ã kia là tiếng súng nhằm vào nhóm của ông. Thì ra vào giây phút chót, ông đã trở thành ích kỷ. Kẻ thù không làm ý chí ông rệu rã, nhưng kẻ thù đã biến ông từ một con người giàu vị tha yêu thương thành một con người chỉ biết lo cho mạng sống của mình. Khi Ba Toản rủ ông ra, ông không ra vì e ngại cái sự ra lại thất bại. Nhưng ông đã thủ thế cả rồi. Người ta nói ông muốn cứ... để nhóm Ba Toản ra trước nếu suôn sẻ ông sẽ bí mật nối đuôi đằng sau. Còn nếu không thoát, ông sẽ hoàn toàn vô can. Thế là ở giữa, đằng nào ông cũng có lợi. Chỉ có điều cái khôn ngoan đó đã không gặp thời. Do ra nối đuôi cập rập mà có người trong nhóm của ông đã để y sì cả quần áo, bò rào. Lá rào dọc ngang chằng chịt, cời trần truồng chui còn khó nữa là vướng víu áo quần. Thế là lộ... Số phận ông Xạ và cái nhóm đó sau này thế nào? Chết hay sống? Có ai nản lòng nhảy sang khu chiêu hồi không, Ba Toản không được biết. Anh chỉ buồn lòng ngậm ngùi làm mẫu mực và khí phách. Nếu đừng để mất lòng tin, nếu đừng vì bản thân mình, nếu biết dựa vào bạn bè chiến hữu thì đêm ấy ông và cả nhóm đâu có nằm gọn trong quầng sáng đạn lửa của kẻ thù!

... Ra khỏi khu vực giáp ranh nhà tù, nhóm vượt ngục Ba Toản không biết đường hướng ra sao, bèn bảo nhau tuốt lên một ngọn núi gần đó tránh né cái đã (sau này mới biết là núi An Thới). Leo đến đỉnh, tất cả đều kiệt sức. Trời tối như bưng, gai mây cứa ngang cứa dọc, còn chút gì gọi là vải vương lại trên cơ thể đều rách bung ra hết. Tính nằm nghỉ đại nhưng nghe tiếng máy đèn rù rù chạy ngay dưới chân, biết rằng chưa ra khỏi khu vực nhà tù, lại bảo nhau tìm đường đi tiếp. Trời càng tối, đường xuống núi càng mờ mịt. Mò mẫm hoài thì sáng trời mất nên tất cả ôm chặt lấy đầu, cuộn tròn người lại làm động tác tuột dốc... Tuột đến đất bằng, nhìn nhau nát bét nhận không ra. Nặm giạng chân giạng tay thở hồng hộc một chập rồi băng qua lộ. Gần sáng thì chạm bưng Ba Gà. Sự tích ở đây truyền lại rằng, cái bưng này nước rất độc, ai đi qua phải cúng ba con gà mới mong tai qua nạn khỏi. Tất nhiên người tù lấy gà đâu mà cúng. Họ dìu dựa nhau lội nước vượt bưng. Chao ôi! Những chỗ xước sát, toát lở vừa đông máu gặp nước chưa phèn xót đến trào nước mắt. Vừa lên đến bờ, toàn thân còn rét run thì chợt có tiếng giày lính và tiếng chó sủa rộ lên. Khắp bốn xung quanh. Những người tù nhìn nhau mắt bạc phếch! Cái chết đã cầm chắc trong tay...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#14 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:23 AM

Cùng lúc đó, từ phía căn cứ Dương Tơ, có một tốp người len lách trong rừng đi ngược trở lại khu vực nhà tù. Họ ăn mặc không giống ai đủ kiểu, nón ba nút vàng của Mỹ, súng ga răng, súng cạc bin đủ cả.

Thoạt trông như một tốp thám báo thiện chiến chuyên lùng sục trong rừng. Nhìn kỹ khi họ rửa ráy dưới suối mới chợt nhận ra rằng: Cả tốp đều đi dép râu và trên khuôn mặt sau khi được lau chùi kỹ, nó hiện ra cái nước da sốt rét rừng tái tái màu xanh chì. Họ là ai vậy và lúc này họ đang đi đâu?

Mời các bạn cùng tôi ngồi xe máy đi hai chục cây số từ thị trấn đến Dương Đông rồi rẽ trái vào một con đường bò cát trắng phau dẫn tới nhà ông Ba Lon, một con người chỉ huy kỳ cựu của lực lượng vũ trang trên đảo.

Ông không có ở nhà. Tôi phải ngồi chờ đến gần chiều tối mới thấy ông lọm khọm đánh đàn bò ba mươi con từ ngoài đồi trở về. Rõ ràng khi biết tôi đến đây vì lý do gì, ông không mấy cởi mở. Vừa hùi hụi quát mấy con chó giống Phú Quốc luẩn quẩn dưới gầm bàn, ông vừa nói lơ đễnh bằng cái giọng còn giữ được nguyên chất Quảng Trị.

- Chú coi, tiêu năm nay không hiểu sao vàng rụi hết trơn. Coi như bỏ. Tôi chuyển sang chăm mấy con bò thay thế. Chu cha! Thời buổi này sao mần ăn khó quá trời!

Tôi đưa mắt phóng nhìn khắp khu vườn râm mát và rộng dài, chạnh nghĩ: Nếu mai mốt hòn đảo cô đơn xa đất liền hàng trăm ki lô mét này trở thành đặc vùng sầm uất thì cái mảnh vườn đẹp như một cánh rừng ôn đới nơi đây dứt khoát phải tạo nên một mảng du lịch thơ mộng cho trẻ em đến căm trại vui chơi, cho con trai con gái đến dựng những mái lều bạt mà tâm sự chuyện trò rủ rỉ giữa thiên nhiên.

- Chú muốn biết chuyện cũ à? - Giọng ông Ba Lon vẫn đều đều, rõ ràng là không muốn bắt chuyện - Tôi giới thiệu đến Năm Sĩ nghe! Ông là chính trị viên huyện đội, có trào lại là huyện đội trưởng, ông biết nhiều lắm đó. Bọn này gọi ông là thổ công trên đảo.

- Dạ! Tôi đi tìm rồi anh Ba. Nhưng anh Năm Sĩ không có ở nhà. Anh lên rẫy cả tuần mới về. Đang vào vụ mần ăn, tìm người khó lắm anh Ba ơi!

- Vậy hả! Chú gặp Tư Tâm chưa? Tư Tâm ngày trước nhiều năm làm đại đội trưởng đại đội chủ công của huyện sau làm huyện đội và giờ này đang làm bí thư huyện ủy, đại biểu quốc hội đó.

- Dạ, tôi có biết, anh Ba! Nhưng thời buổi ổn định chiến lược kinh tế này, gặp được mấy ông nghị sĩ đâu có dễ. Anh Tư đi Hà Nội họp rồi, tất nhiên tôi sẽ chờ gặp bằng được vị cựu đại đội trưởng này.

- Thôi, được rồi - ông Ba Lon thở dài - Vậy chú muốn hỏi tôi điều gì nào? Hỏi ngắn, hỏi ít thôi nghe! Chuyện qua lâu rồi, bỗng dưng bắt nhớ lại ngang hông, coi chừng lộn xộn đó nghe! Sao? Chuyện tù vượt ngục hay chuyện chiến tranh trên đảo?

- Cả hai.

- Tham quá trời vậy chú Hai!

Ông cười, cái cười làm giãn nở khuôn mặt đã có nhiều nhăn nhúm qua thời gian năm tháng. Vậy là ổn! Tóm lại ông đã cười, sáu mươi tư năm sống ở đời, ngót ba mươi năm trận mạc gian nan, lại chục năm về già lo làm ăn sinh sống, tưởng rằng người lính già đã chôn chặt quá khứ vào góc vườn sâu tăm tối rồi, nhưng không, chỉ cần qua một nét cười trầm mặc là đủ nhận thấy ông vẫn thuộc về ngày hôm qua, những ngày ác liệt cam go nhưng cũng thật nhiều lãng mạn tốt đẹp mà ai đã trải qua một lần thì không bao giờ quên được nữa.

- Tôi nói chuyện tù trước rồi sau đó xen kẽ, nhớ đâu kể đó nghe!

Sau hiệp định Giơnevo, địch đưa tù chính trị ra. Lúc đó tại Cây Dừa đã có mốt ố tù quân sự rồi. Vậy là đảo lúc đó hình thành hai nhà tù trung ương và một nhà tù của quận. Ba cái tất cả. Số tù có khi đông hơn số dân.

Trước tình hình đó, huyện và xã đều thành lập ban binh vận để hướng mục tiêu ứng phó với nhà tù. Nhà lao Cây Cầy ta đã bắt mối được ba nội tuyến nằm sâu trong hàng ngũ địch, nhà lao Cây Dừa khá hơn, ta đã nắm trọn được một trung đội do một chuẩn úy quân cảnh chỉ huy. Người chuẩn úy này tên là gì, ở đâu, tôi cũng quên mất rồi. Nhờ đó, ta có thể thường xuyên đưa thuốc men, tin tức vô trong tù và cấy được cả nhau thai đưa vô bồi dưỡng cho anh em bị thương tật ốm yếu nữa. Hơn một năm sau, có một trăm tù bên phía Cây Dừa đề nghị với ta xin ra cùng với nội tuyến - Người này tên là Lắc thì phải. Ta chỉ chấp nhận năm mươi vì như chú biết đó, ra dễ nhưng nuôi khó, tổ chức đưa về đất liền lại càng khó hơn. Trong năm chục người đó có cả anh Phạm Văn Khỏe, em ông Phạm Hùng, chắc chú...

- Dạ, có nghe anh Năm Trì nói, anh Ba!

- Ừa! Ra thoát, ta tổ chức đưa về đất liền phần lớn, còn lại hầu hết đều là cán bộ chủ chốt của lực lượng vũ trang trên đảo cả. Tôi còn nhớ mấy anh như Tám Đảo, Bảy Y, Ba Lửa... nhiều lắm, chiến đấu có nghề, dũng cảm lắm. Sau đó đều hy sinh rải rác trận này trận khác hết. Tôi thường nói với mấy anh trên tỉnh, trên khu, trên cả Trung ương rằng, sự nghiệp đấu tranh của Phú Quốc không thể tách rời được công sức và sự hy sinh vô điều kiện của anh em tù thoát ngục ra.

Sau đó chúng đưa tù chính trị về Côn Đảo hết, cuốn theo cả nội tuyến. Như vậy từ đó chỉ còn một nhà lao Cây Dừa. Ta tiếp tục chủ trương làm binh vận và đấu tranh chính trị. Lúc đó ta chưa có chủ trương võ trang nên kẻ địch làm căng lắm. Anh Năm Trì cho thành lập một tổ diệt ác, bắt đầu là anh Hai Hiến, sau đó đến tôi làm tổ trưởng. Cũng là một thứ tổ trá hình thôi. Năm 1960 tổ này phát triển lên thành một tiểu đội, hay gọi bằng đội cũng được, đội có mười hai người do anh Năm Sĩ chỉ huy, tôi và anh Hai Khánh làm phó. Thời kỳ này huyện ủy do anh Chín Kỳ làm bí thư.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#15 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:24 AM

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, đội võ trang ra quân trận đầu ở đồi Ông Lang, đánh một B địch. Trận đầu mới lạ lên thắng không ngon. Cây Tôm xông của Năm Sĩ phát hỏa không nổ nên ta nổ súng không đều. Gọi là nổ súng cho oai chớ hồi đó chỉ có một cây Tôm xông trao cho chỉ huy, hai cây Mỹ mòng, một cây trường mas, còn lại là súng hơi, lựu đạn trái na... Nhưng cũng diệt được 4 tên, ta không ai bị làm sao hết. Bà con phấn khởi lắm. Địch lại kháo nhau: "Đ.mẹ có lực lượng ở Bắc vô, coi chừng nghe!".

Trên đà thắng, đầu năm 1961, đánh tiếp đồn dân vệ Hàm Ninh theo kiểu bán biệt động đóng giả lính vô thẳng đồn. Thắng tuyệt đối, thu hết trơn vũ khí, kêu tù binh xếp hàng giáo dục ba điều bốn chuyện rồi thả luôn. Sau trận này, vũ khí ra đầy nhóc, tha hồ xài.

Cùng trong thời gian đó... Mà ủa! Tôi đang nói cái gì vậy? Có đi lạc quá sâu sang chuyện đánh đá bên ngoài không?

- Dạ không! - Tôi cười - Anh Ba đang nói vô khía đó. Không có bên ngoài, sao có bên trong? Nhà tù với Phú Quốc là một, cái nay fnawmf trong cái kia, cái kia bao bộc cái này, cùng chung số phận, cùng chung thắng thua mà anh Ba!

- Ừa! Đúng là báo chí văn chương mấy chú, nói kiểu gì cũng được. Vậy tôi cứ kể nghe, rồi tùy chú sàng lọc. Cái nào trùng thì bỏ, cái nào mới thì nghe...

Cùng trong thời gian này, phong trào diệt ác ôn lên mạnh dữ lắm! Nói thế nào nhỉ? Đành rằng ba quả đấm, ba mũi võ trang, chính trị, binh vận đều giáp công, nhưng cái món võ trang, diệt ác là tối quan trọng, chuyện chiến tranh năm ăn, năm thua, nói miệng không với kẻ thù đâu có đặng. Nói mười không bằng bứt đi của chúng được một. Cho nên vấn đề diệt ác theo tôi phải được ghi thành một cuốn sử riêng của Phú Quốc. Diệt ác nhiều khi trở thành chủ đạo, thành nghiêng lệch cán cân trong những tình thế cách mạng hết sức mỏng manh, thành giá đỡ vực dậy hai mũi chính trị và binh vận kia. Nói vậy không hiểu có sai nguyên tắc, lập trường Đảng không, nhưng thực tiễn chiến tranh đã chứng minh điều đó hoàn toàn trúng. Như vậy là từ Giơnevơ đến khi đồng khởi, đảo đã ra tay trừ khử được thằng Cường, thằng Lắc, cai Sen, thằng Đức, thằng Chanh phòng nhì... Nhiều lắm! Ác giả ác báo, lấy độc trị độc, chúng nó rung động, bà con hăng hái yên tâm hẳn lên. Phải tới gần 50 lính ngã lòng ngã sang ta. Hơn một trăm thanh niên rủ nhau trốn quân dịch vô rừng trong vòng vài ba tháng. Một lực lượng đáng kể đó chứ, hả? Có người ta lập ngay một trung đội mạnh, mạnh cả số lượng lẫn vũ khí. Vũ khí ư? Thiếu gì! Lấy của nó mà đánh lại nó, mệt nghỉ chú à!

Sau đồng khởi, sức ta lên như diều gặp gió. Diệt ác, phá kềm, vây đồn... Cứ ào ào... Sau trận Hàm Ninh, đánh tiếp một trận giao thông trên con lộ cạnh. Không giết được ác ôn nhưng bắt được một cha cố người Mỹ bự con lắm. Năm Sĩ giáo dục rồi thả. Sau này trong một trận phục kích diệt của nó non tiểu đội thuộc lực lượng hải thuyền vùng 4 chiến thuật ở đặc khu Cây Dừa, chúng khủng bố đem ba người dân di cưu ra bắn, chính vị cha cố này đã đứng ra can giáo, phát động dân đấu tranh. Ít tháng sau, nghe nói chúng đưa ông cha này về Sài Gòn.

Mấy trận sau này do tôi bị thương nên không dự được nhưng nằm ở trạm xá nghe súng bên ta nổ giòn mà khoái trong bụng dữ lắm! Trận Bãi Bổn diệt gọn một tiểu đội bảo an đi lùng sục nè! Trận đánh một toán biết kích ở ấp Dương Xanh, Bằng Quỳ thuộc Dương Tơ nè! Tuy nhiên trận này bị lộ, bọn ác ôn chạy ỉa cứt trong quần nhưng về sau chúng cũng không dám đi lại nghênh ngáo làm tàng nữa. Kẻ thù co lại thì quần chúng bung ra, luật đấu tranh sanh tồn là vậy. Hàng chục ấp chiến lược bị phá rã, nhìn bà con mình đổ về xóm cũ mần an dưới ánh nắng mặt trời mà mát ruột gan.

Đến năm 1962, ta thành lập được huyện đội. Ấy, chú đừng tưởng cái chuyện lập huyện đội này không có đáng nói. Đúng! Cái từ "huyện đội" đâu có nghĩa bao nhiêu, nhưng phải đặt trong hoàn cảnh thế địch mạnh hơn ta gấp ngàn lần, bao lâu nay nó ỷ thế lắm người nhiều súng lấn ta từng bước thì mới thấy sự ra đời của một tổ chức vũ trang tên là "huyện đội" nó có ý nghĩa lớn lao thế nào. Nó là biểu hiện từ nay trên hòn đảo côi cút này đã hình thành một thế đối đầu bạo lực bất phân thắng phụ, chớ có đùa!

Huyện đội bước đầu có sáu chục tay súng. Thế cũng đã nhiều. Năm Sĩ là chỉ huy trưởng. Sau đó tôi ra viện thay Năm Sĩ, Năm Sĩ chuyển sang làm chính trị viên. Tất nhiên bí thư đảng ủy huyện đội kiêm bí thư huyện ủy vẫn là đồng chí Bảy Kiên tức Giang Lạc Đăc (lúc này anh Chín Kỳ trở về tỉnh rồi). Một khi đã có cơ cấu huyện đội, tất nhiên phải kéo theo những tế bào cơ bản. Lực lượng võ trang xã, ấp, cũng chính thức ra đời mà ta thường kêu bằng xã đội, ấp đội. Thành lập cả công trường tức công binh xưởng chế vũ khí tự tạo đủ cả: mìn trái, bộc phá sào bê ta, hỏa lôi công, súng ngựa trời, súng nẻ từng viên, dao găm, mã tấu... do anh Hai Nguyên làm công trường trưởng thay ông Ba Bông chuyển sang công tác khác.

Bước qua năm sáu bốn, ta tập kích vô sân bay khi tướng râu dê Nguyễn Khánh đến đảo thị sát. May cho ông cố ba đời nhà hắn, trời xui đất khiến thế nào hắn lại đáp xuống sau nên không chết. Hận cú chết hụt vang danh xấu ra cả thế giới này, hắn rắp tâm trả đòn, trả đòn từng nấc một, trả đòn rất thâm độc. Hắn đánh ngay vô cái địa thế cô đơn của đảo bằng ngón phong tỏa nhà nghề dài ngày. Ngón đòn này đã có kết quả, đẩy hòn đảo dần ngã sang một tình thế mới và dẫn đến cái chết sau này của anh Giang Lạc Đắc như chú đã biết.

Nhưng muốn phong tỏa được cái hòn đảo can tràng, có bề dày truyền thống bất khuất này đâu dễ dàng gì, chú! Ta vẫn làm tới. Làng xã chiến đấu vẫn ra đời và tồn tại. Kẻ địch bị bó chân bó tay ở khắp mọi nơi. Công tác đấu tranh chính trị và binh vận dâng thành cao trào. Khu dinh điền tại Cầu Sấu, nơi bọn địch tin tưởng nhất bị chà sát trong một đêm. Hai chục thanh niên trai tráng bỏ ra với cách mạng. Khu vực An Thới vốn là trọng điểm bình định của nó, nay bỗng thành trọng điểm nổi dậy của ta.

Trong đó, không thể không kể đến sức mạnh đấu tranh chính trị của đội quân đầu tóc. Cuối năm sáu tư, để xúc tiến chiến lược phong tỏa, hải quân địch bắn xối xả vô đất liền vô rừng rú và vô cả xóm ấp. Đứa nhỏ con anh Năm Bôi bị trúng đạn chết, lập tức hơn ba trăm chị em khiêng xác cháu lên tận bộ chỉ huy hải thuyền đòi bồi thường đền mạng. Bọn chỉ huy này không biết đối phó sao đánh hứa sẽ hạ lệnh ngừng bắn vô bờ biển. Ít ngày sau Hai Hoa là vợ tôi dẫn đầu mười chị em kết hợp với mũi võ trang cũng lên bộ chỉ huy hải quân đòi không được bắn vô hoa màu, gia súc làm hại đến tài sản bà con. Bộ chỉ huy còn đang vò đầu bứt trán thì ta nổ súng vô một giang thuyền hỗ trợ đắc lực cho toán 10 người này. Rút cục, chúng lại phải hứa hẹn... Còn nhiều, nhiều lắm những vụ đấu tranh hợp pháp như thế khiến kế hoạch phong tỏa án ngữ và thiết lập vành đai trắng đoạn đường từ An Thới đến Dương Tơ của chúng tiến hành rất trật vuột, có lúc phải ngưng lại.

Bên trong đất liền, lực lượng ta tiếp tục tiến công. Trận Vũng Tàu ấp Cây Bến là một trận gây thối động lớn. Chúng chết một trung đội, phải kêu trực thăng lấy xác.

Rồi một trận đánh càn căng thẳng suốt 15 ngày trước lực lượng hỗn hợp hải lục không quân cấp trung đoàn của chúng, với đủ cả máy bay, tàu chiến. Lực lượng ta gồm có cả bộ đội lẫn dân quân du kích và dường như cả đảo làm nhiệm vụ tiếp tế, dân công cho trận đánh càn. Rút cục chúng phải hối hả rút chạy, bỏ lại một trung đội xác chết. Ta không ai bị sao. Vậy mới kỳ chớ!

Tiếp đến một trận tập kích ban ngày cướp xác tại Cầu Cũ Bà Điểm thắng ngon lành. Trước đó, chúng phục kích bắn chết một cán bộ thông tin đằng mình và giữ xác lại trong đồn. Tư Tâm chính trị viên và Ba Thống, đại đội trưởng đã lên một phương án táo bạo cướp xác ban ngày. Xác đồng đội ta lấy được và chúng phải trả giá bằng một trugn đội thương vong hoàn toàn.

Và ngay trong thời kỳ mất liên lạc với tỉnh, lúc đoàn của anh Năm Trì chưa ra, lực lượng võ trang huyện dù đã teo tóp đi nhiều nhưng vẫn đủ sức dạy cho cả Mỹ lẫn ngụy một bài học xương máu nữa khi lần thứ hai chúng dùng cả hải lục không quân đánh vô Khu Tượng sau lưng ta. Trận càn mang cái tên hay ho: "Ba lượn sóng thần" diễn ra đúng 10 ngày đêm không ngơi nghỉ. Chúng tưởng phen này dứt khoát sẽ nghiền đầu não và lực lượng cách mạng ra cám, nhưng rồi sau mười ngày ba cái lượn sóng thần mắc dịch ấy lại lộn đầu nhấn chìm chúng xuống. Địch lại phải ôm đầu máu trở về với tổn thất: một trung đội bị diệt, một máy bay đầm già bốc cháy.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#16 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:24 AM

Sau đó với sự kiện đồng chí phó bí thư tỉnh ủy tìm ra đảo với lô vũ khí xã hội chủ nghĩa đầu tiên. Đảng đã hà hơi vũ khí hiện đại ra tiếp sức, lực lượng ta sau một thời gian phòng ngự bị động bắt đầu bung ra lấn sân địch từng bước như đồng chí Lâm Kiên Trì chắc đã kể với chú! Tôi không nói lại nữa. Rồi sự kiện Mậu Thân xảy ra trong lúc chúng tôi chỉ nghe đài, nghe radio để phối hợp hành động với toàn chiến trường. Tất nhiên trước đó, sau khi anh Năm trở về được ít ngày, một đồng chí phái viên ở tỉnh ra đã truyền đạt mệnh lệnh chuẩn bị lực lượng cho chúng tôi, nhưng chuẩn bị để làm gì? Thời điểm hành động là lúc nào, thì chính đồng chí phái viên đó cũng không biết. Vậy là đảo vẫn hành động không chênh với thời gian của toàn miền là bao.

Nếu nói cho văn vẻ theo kiểu mấy chú thì Phú Quốc được gắn với đất mẹ bằng một mạch máu vô hình. Đã gắn rồi thì trong kia đất liền nóng lạnh thì ngoài này đứa con cũng nhức đầu sổ mũi theo. Đã mấy mươi năm nay, do địa hình cách xa chúng tôi đã hành động theo kiểu nhức đầu sổ mũi tự giác như thế mà chưa bao giờ đi lạc đường hướng.

Đêm ấy nghe đài thấy các nơi đánh dữ quá, chúng tôi cũng quáng quàng tập trung hết thảy lực lượng, cả du kích các ấp, xã rùng rùng kéo đi bao vây thị trấn, bao vây sân bay và xé lẻ bao bao vây luôn đồn bót ở khắp mọi nơi. Khí thế dâng ngút trời.

Bọn địch chắc đã nắm được thông tin toàn cuộc nên sợ hãi nằm im. Tưởng phen này mở mặt muôn đời, phen này hòn đảo sẽ sạch bách bóng thù, phen này dứt khoát các binh đoàn chủ lực sẽ ào ạt đổ bộ xuống đảo kín đất kín trời làm một trận "sạch không kình ngạc". Nhưng rồi đợi hoài, đợi hủy, vẫn không thấy gì. Sau một vài tổn thất không đáng kể bọn địch đã dần dà tỉnh lại và cùng với tình hình tạm lắng trong đất liền, chúng bắt đầu bò ra phản kích trở lại. Nó hơn mình cả ngàn lần, lại đủ cả hải lục không quân, mình sức mấy mà bao vây, ép sát được hoài: Vậy là phải rút. Vừa rút vừa ngơ nác vừa tiếc nhểu nước miếng.

Bắt đầu từ đó, đảo bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đen tối, hãi hùng của toàn Đảng toàn dân trên đảo. Nhưng thời kỳ này Phú Quốc mở ra những trang sử oanh liệt và rạng rỡ nhất. Trong đó, không thể không kể đến sự xuất hiện của các đồng chí tù vượt ngục. Ví như vai trò của nhóm anh Hai Hội, Tư Phước ra đã thành lập được một phân đội đặc công đánh đông dẹp bắc khiến kẻ địch ngán sợ lắm.

Sau Mậu Thân, lượng tù binh trong nhà lao Cây Dừa lên đến 40 ngàn người từ khắp các chiến trường, các quân binh chủng đưa về. Và trong vô vàn công việc ngổn ngang của một cấp ủy thời chiến, huyện ủy lúc đó do anh Hai Hiến đứng đầu đã đề ra một nghị quyết về tù binh. Tiếp tục bồi dưỡng cán bộ nội tuyến để nắm tình hình bên trong, tiếp tục đánh động để anh em tù binh biết tin mà quyết tâm ra và nhanh chóng thành lập những nhóm nhỏ ở Dương Tơ, ở đặc khu An Thới, ở khắp chu vi nhà tù để sẵn sàng đón tiếp nếu anh em ra được. Chỉ trong vài tháng, số tù binh trở về rừng đã có tới trăm người, mỗi người trở về một kiểu, nhiều chuyện cảm động và thương tâm lắm, nếu viết chú chớ có quên những cảnh này.

Một lần, nhân xuống Dương Tơ làm với xã đội do Hai Sửu phụ trách. Đã gặp Hai Sửu chưa? Chưa à? Chưa thì rất nên gặp, đây là con người đánh giặc đẹp nhất toàn đảo đó. Đáng lẽ Hai Sửu phải được phong anh hùng nhưng...sông có khúc người có lúc mà chú. Một chị cơ sở ở trong ấp đến báo: "Cách đây mấy ngày bà con có nghe thấy súng ở khu vực nhà tù nổ dữ lắm, sau đó thấy cả lính dẫn chó đi lùng sục khắp nơi". Tù trốn rồi! Tôi phán đoán vậy và kêu Hai Sửu cho người đi đón, không anh em lại đi lạc vô đồn địch chết uổng. Hai Sửu cử ngay Sáu Thảnh dẫn một tổ đi...

Ba hôm sau tổ của Sáu Thảnh trở về dẫn theo 6 anh em tù người ngợm nát bấy, trên thân thể không còn một mảnh vải, để hở ra những cặp xương sườn còng queo tội lắm. Hỏi ra mới biết đó là nhóm tù của Ba Toản.

Ba Toản lúc ấy... coi nào, bây giờ cậu ta ước chừng 50 tuổi thì lúc ấy, vô năm 1968... Hai mươi năm... Khoảng hai bảy, hai tám tuổi thôi nhưng dòm như ông già 60. Hai mắt trũng sâu, tóc tai lởm chởm, đám trắng đám đen, da dẻ cóc cáy vàng bũn, giọng nói phều phào đứt đoạn như người không có phổi.

Bằng cái giọng đó, Ba Toản kể lại chặng đường vượt ngục của mình, nghe như chuyện trong phim mà thời gian trôi qua lâu rồi, tôi vẫn còn nhớ lõm bõm được chú à!

... Cái lúc khắp xung quanh vang tiếng giày đinh, tiếng chó sủa khiến ai nấy nhìn nhau mắt bạc phếch ấy, Ba Toản chợt phát hiện ra đám cỏ voi cao quá đầu người mọc trên lớp sình đặc sệt, nổi váng vàng váng đỏ. Một kỹ thuật nghiệp vụ lóe lên trên đầu, Ba Toản kêu anh em nhanh chóng bẻ mỗi người một lóng cỏ voi ngậm vô miệng rồi chui vô bụi cỏ, vùi sâu người xuống để hở ống cỏ một đoạn lên trên mà lấy không khí để thở. Mọi người vừa thực hiện xong động tác đó thì bọn lính cũng ập đến. Chúng đứng lố nhố trên miệng ao sình, xưa chó xuống. Những con chó lội ào ào, miệng há ra đỏ lòm như miệng cá sấu. Chúng quầy nát cả ao sình, chui vô cả bụi cỏ, sủa lên mấy tiếng ằng ặc rồi ào ào lội trở lại, mình mẩy bê bết bùn hôi hám. Bọn lính văng tục mấy câu, đá thí mạng vào be sườn chó mấy cái rồi cả người lẫn chó kéo nhau đi nơi khác. Lát sau, họ đội sình đứng dậy, kiểm qua kiểm lại thấy thiếu một người. Vậy là tất cả lộn trở lại lụi hụi mò... Lát sau, họ lôi lên một thân hình rũ rượi gần như không thở. Đó là Dũng, quê Hà Nam, do sức khỏe yếu quá không chịu nổi mà ngất xỉu trong lòng sình. Hô hấp nhân tạo, đổ nước vô mặt chờ cho Dũng tỉnh lại, họ dìu nhau đi tiếp. Đến một con suối, cả nhóm thay nhau xuống tắm một chập cho trôi hết sình rồi nhìn nhau cười mếu máo. Tất cả lại trở lại sạch sẽ tinh tươm như cũ, chỉ phải người không ra người chút thôi.

Ngày hôm đó, cả nhóm hầu như không tiến thêm được bước nào, la bàn, bản đồ không có; người địa phương hoặc am hiểu về Phú Quốc chút xíu cũng không nốt. nên cứ nhắm đại hướng mặt trời mọc mà cắt rừng đi. Đi về hướng đó, dù không gặp căn cứ thì cũng gặp biển, gặp biển rồi sẽ tìm cách vượt về đất liền. Nhưng họ đâu có biết bờ biển bị phong tỏa dày đặc, nếu không có tiếng giang thuyền nổ máy rì rì thì cả nhóm đã sa vô cạm bẫy của tụi trinh sát thủy quân rồi.

Đêm đó họ chui vô rừng nằm tiếp. Muỗi, đói và mưa rả rích khiến cho không ai ngủ được. Nằm ôm nhau dưới những tán lá kết thành mái sơ sài, nghe mưa rơi trên xứ lạ mà nghĩ ngợi bao điều gần xa. Gần sáng, bấm nhau dậy tìm đường. Vừa ló khỏi vạt rừng ướt sũng, họ chạm ngay vô mặt lộ đỏ. Chết cha rồi! Mất bao sức lực, hai ngày sau họ lại trở về vị trí ban đầu. Hụt hẫng và thất vọng, họ oải người nằm bệt xuống. Có người phàn nàn: "Thôi không đi đâu nữa hết. Cứ nằm đây, chết thì thôi, không chết, bọn lính bắt được nhốt trở lại vào tù còn khỏe hơn". Ba Toản không nói nửa lời, lầm lì dẫn mọi người cắt rừng đi tiếp. Cậu ấy không đi về hướng đông nữa mà chuyển hẳn sang hướng bắc. Sau này tôi hỏi tại sao lại chọn hướng đó, Ba Toản trả lời: "Linh cảm thôi anh Ba! Linh cảm của thằng lính trinh sát thôi chớ có biết hướng nào là ta, hướng nào là địch đâu".

Đêm đó họ ngủ trong trảng tranh. Mưa càng to, mưa suốt đêm, một người lấy lá che cho hai người ngủ, kiểu ngủ ngồi bó gối để mặc cho nước lạnh chảy ròng ròng từ đầu xuống chân. Sớm sau đi nữa. Một người lên cơn sốt rét run cầm cập không bước nổi, phải thay nhau cõng đi. Ếch mang mình ếch còn không xong, huống chi còn đèo bòng. Tốc độ đi chậm như sên bò nhưng không ai kêu ca, không ai chịu rớt lại. "Khổ cực nhưng mà ham lắm! Nếu không lăn ra chết thì trước mặt là cả một khoảng trời tự do", Ba Toản nói lại với tôi như vậy.

Đêm thứ tu họ lạc vô một rừng chuối rậm rạp. Xa xa dưới thấp có ánh đền le lói. Đèn thiệt hay đom đóm? Mà nếu đúng đèn thì đèn dân hay đèn địch? Đói quá mắt mờ không phán đoán nổi. Họ bẻ đọt chuối ăn nhồm nhoàm rồi kéo lá chuối che người ngủ qua đêm.

...Sáng ra, mới bừng mắt dậy họ đã giật thót người. Thì ra đêm qua họ đã nằm kề một dòng suối mà không hay. Và lúc này đây, dưới dòng suối mùa mưa đục ngầu ấy đang có một toán người ăn mặc không ra ta, không ra lính đang rửa chân tay. Tất cả sẽ cho rằng đây chính là một toán biệt kích đi sục sạo trong đêm trở về nếu họ không phát hiện ra những đôi dép râu dưới chân những người kia. Khoan! Có thể bọn biệt kích cũng thường đi dép râu để đánh lạc hướng lắm chớ. Họ chú mục quan sát cách rửa mặt bằng tay và nước da xanh tai tái của tốp người lạ mặt. Mười phần đã tin bảy. Lính ngụy không thể có nước da sốt rét quan thuộc và lối rửa mặt bằng tay kia. Chỉ đến khi đám người lôi cơm vắt ra chấm muối tiêu ăn ngon lành thì đoàn Ba Toản mới hoàn toàn tin hẳn. Họ lẳng lặng đi ra khỏi chỗ nấp mà hai cánh tay khẳng khiu cứ muốn đưa về phía trước định làm một vòng tay ôm đồng đội mà không được! "Các đồng chí ơi! Các đồng chí có phải là anh em mình đó không?". Một người tù nghẹn ngào nói được từng ấy tiếng rồi lăn ra, ngất xỉu...

Thưa các bạn! Người lính già Ba Lon còn kể với tôi nhiều chuyện lắm; kể về chiến tranh, kể về thời bình, về những chiến công và mất mát những tháng ngày sau đó, kể về cả sự tồn tại của những người tù vượt ra sống, chiến đấu trong đội hình của đảo như thế nào. Ông kể chậm rãi, không khoa trương, không có một lời đại ngôn xa cách. Những tư liệu của Sáu Ái, của anh Hai Phi, của Ba Toản... đã chứng minh điều đó.

Nhưng tôi xin tạm dừng ở đây. Bởi lẽ lạm phát tiền tệ đã là một bi kịch, lạm phát tư liệu và chữ nghĩa trong lịch sử lại còn nguy hại hơn. Tôi chỉ muốn hỏi thêm ông về một hình ảnh lờ mờ mà không hiểu sao cứ ám ảnh day dứt trong tôi hoài.

Tôi lại hỏi ông có nghe một người tù nào tên là Quang vượt ra không? Ông lắc đầu!

- Ra nhiều lắm! Một số ở lại cầm súng như Hai Hội, Tư Phước, Ba Toản... một số đưa về đất liền, số nữa tản xuống hoạt động tại các ấp xã hay chuyển sang khắp các ban ngành của huyện. Tôi nhớ trong đó có một người tên là Hòa, Trương Văn Hòa gì đó, to cao như Mỹ, vốn là anh hùng quân đội vượt ra được. Anh này không ở lại đảo lâu. Anh hùng là do Trung ương quản lý, mình địa phương giữ lại sao được nên tìm cách đưa về trên. Vậy thôi. Còn tôi không nhớ hay không để ý có ai tên Quang cả. Chú thử tìm hỏi coi.

Tạm biệt ông Ba Lon với đàn bò vang rực nắng chiều và khu vườn râm mát như một mảnh rừng thơ mộng, tôi khăn gói lên đường tiếp tục cuộc hành trình cô độc của mình.

Chiếc đài to tướng chạy pin để trên bàn ăn cơm của ông tiễn đưa tôi bằng một bản tin nóng bỏng về vùng vịnh Pécxich... Ngày 15 tháng 1 tới, nếu Iraq không nhân nhượng, nửa trái đất sẽ ngập chìm trong lò lửa chiến tranh...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#17 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:26 AM

... Không chỉ ở lớp trẻ mà ngay trong lớp người già đã gánh trên vai hai, ba cuộc kháng chiến cũng không nhiều người biết về nhà tù Phú Quốc, và nếu có một ai đó hiểu rằng hòn đảo ấy ngày trước là một hòn đảo tù đau thương thì thường họ chỉ nhắc tới huyền thoại đào hầm..

Huyền thoại đào hầm... Vậy là đã hàng chục ngày trôi qua tôi cũng đã gặp gỡ hàng chục người, hàng chục các nhân chứng sống nhưng một nhân chứng thực sự đào hầm lại tìm chưa ra! Tôi thoáng hốt hoảng! Chui rào, bò rào, giật súng để thoát ngục tôi đã nghe kỹ càng rồi và sẽ còn tiếp tục được nghe nữa, nhưng con người khoét hầm bằng xương bằng thịt tìm không thấy thì coi như cái thực thể nhà lao Cây Dừa mới dựng được khung mà chưa có lục phủ ngũ tạng. Coi như rỗng tuềnh rỗng toàng. Tôi đã đánh điện, đã viết thư về Thanh Hóa hỏi tin Lê Xuân Các - người anh hùng đào hầm mà Ba Toản có nhắc đến. Một tuần sau, ở đấy trả lời không rõ Lê Xuân Các đi đâu? Hỏi thăm vài nhân chứng nữa, họ nói Các đã đem gia đình vào Sông Bé lập nghiệp. Tôi nhảy xe đi Sông Bé. Chao ôi! Sông Bé đất rộng người đông, nhiều huyện lắm xã, biết tìm cái tên "Các" ở chỗ nào? Thà rằng có một Lê Xuân Các là giám đốc, là cán bộ tỉnh, cán bộ huyện hay chí ít là cán bộ xã thì khả dĩ có thể tìm ra. Nhưng thân phận những người tù binh trong chiến tranh đã mấy người được may mắn như thế, hay là giải phóng một cái, họ giũ bỏ tất cả trở về với đời làm dân, với đất đai lam lũ.

Nửa tháng trời rong ruổi không tìm được người cần tìm nhưng rõ là hên, tôi đã may mắn gặp được những nhân chứng sống khác mà nếu thiếu họ, cái thực thể Cây Dừa cũng không còn là Cây Dừa.

Một trong những người đó là anh Sơn, đang giảng dạy triết học tại đại học Cần Thơ, anh là một người cao, gầy, giọng nói quê hương Bác nhỏ nhẹ và khúc chiết như chính cái nghề nghiệp của anh đòi hỏi như vậy. Anh tiếp tôi trong căn hộ mới xây xinh xắn của vợ chồng anh. Có lẽ nếu gọi là dấu vết của những năm tháng tù đày thì ở anh, người ta sẽ tìm thấy ít nhất.

Anh không nói về anh mà nói về một vụ đi củi giật súng chạy thoát đến hơn bốn mươi người mà anh có biết và chứng kiến. Đó là chuyến ra hùng mạnh đông đảo nhất của lịch sử vượt ngục tù Phú Quốc, nó tạo thành thế đối tỉ với sự kiện ra ít nhất, ra một người của chàng trai Hà Nội tên là Tín như đã nói ở trên.

Sơn bị giam trong khu tù hạ sĩ quan. Khu này hầu hết là tù binh bị bắt trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Là khu giam thường nên cuộc sống lao tù không đến nỗi quá nghẹt thở như các khu biệt giam, khu cấm cố nhưng cũng đủ kinh rợn để mỗi người tù đều tự hình thành một ý chí thoát ngục xung lửa ở trong đầu.

Trước khi ra được, Sơn có những kỷ niệm đau đáu không thể quên trong những ngày đen tối đó.

- Cứ mang cái kiểu bóp cò thẳng căng của người lính vào tù là không ổn, anh ạ! - Anh nói - Mình là kẻ bị trói, nó là kẻ cầm roi, mình thiếu mềm dẻo một chút là trả giá đủ. Tôi nhớ dạo ấy, để giết thì giờ và để tự trấn an đầu óc cho đừng nghĩ ngợi ngang ngửa, tôi có rủ vài ba anh em nữa mượn sách tiếng Nga của bọn quân cảnh để tự ôn, tự học. Thằng trung úy Hiển, dân công giáo toàn tòng nổi tiếng độc địa, thấy vậy, hắn cười khẩy, lấy chân đá đá vào cuốn sách trên tay tôi, hất hàm hỏi:

- Mày là Bắc kỳ hả? Dân Bắc kỳ ham học dữ heng! Vậy nghe tao hỏi, trả lời cho thật đây: Bắc hay Nam sống khá?

Tôi biết thằng ác ôn này tính chuyện gây sự, nhưng không thể nói chiều lòng nó, bèn giả bộ ngơ ngác để có thì giờ suy nghĩ.

- Ông trung úy định hỏi cái gì khá? Văn hóa hay thể thao?

- Sống khá! Cuộc sống của bọn mày khá hay thua cuộc sống trong này? Tức là cái miếng ăn nhét vào mồm ấy. Nói cho thật.

- Cuộc sống trong này tôi đâu có biết mà so sánh, ông trung úy! Vao Nam một cái là ở rừng luôn, ngày hay đêm, năm này qua năm khác, đều đập mặt vào rừng, có được xuống dân ngày nào đâu mà biết.

- Được! Mày trả lời khá - Hắn cười gằn - Nghe hỏi nữa đây: Mày có chấp nhận cuộc tiến công Mậu Thân tầm bậy tầm bạ của Đảng chúng mày là bại không?

- Mậu Thân ấy à? Vâng! Thắng hay bại, lính trang cùng đinh nằm xó rừng như tôi đâu có rõ. Chuyện ấy là chuyện trên cao, bí hiểm lắm! TÔi cũng như ông, cứ trên ra lệnh tiến là tiến, ra lệnh lùi là lùi, nhiều khi có rõ tại sao tiến, tại sao lùi đâu. Theo binh pháp thì chắc ông trung úy biết, tôi không dám qua mặt, nhiều khi tiến chưa phải là thắng và lùi cũng không có nghĩa là thua.

- Thôi! - Nó quát - Cộng sản lắm cái mồm! Vào đây rồi mà còn lắm cái mồm! Bọn bay khổ vì lắm lý luận, lắm chữ nghĩa quá đấy. Bao nhiêu tuổi?

- Cái gì tuổi cơ?

- Tôi hỏi anh bao nhiêu tuổi?

Thấy hắn đã xuống giọng "anh - tôi" đàng hoàng, tôi khoái trong bụng nhưng ráng không xuống thế:

- Tôi sinh ra cùng với đất nước!

- Nói cái gì?

- Chắc ở ngoài đó ông trung úy không còn lạ gì ông bà cha mẹ chúng ta đều thoát khỏi kiếp nô lệ tủi nhục vào năm 1945. Tôi sinh năm đó.

- Đ. mẹ! Thằng nay chơi xỏ quốc gia. Lính đâu! Cho nó ra sân giẫm gai mây, coi nó còn già hàm được không?

Tôi bị giẫm gai mây thật! Mây rút ở rừng về, chúng đem phơi nắng cho quắt lại, riêng những cái gai dài bằng nửa đốt ngón tay lại dẻo quánh, chỏng lên trời. Chúng rải cả bụi, cả bó như thế bắt tôi giẫm chân trần lên. Giẫm bước thứ nhất, gai đâm lút gan bàn chân buốt thấu lên tận óc. Giẫm bước thứ hai, mắt nổ hoa cà hoa cải, giẫm bước thứ ba, thần kinh mụ mị không còn biết mình giẫm lên cái gì nữa. Giẫm bước thứ tư... người mạnh nhất cũng té dụi. Té dụi, chúng nó đánh giữa mặt bắt cho đứng lên. Bước tránh chỗ không có gai, chúng nện than củi dài cả mét vào xương ống chân bẻ lái cho trúng gai. Đây là một hình phạt ghê rợn ai đã trải qua một lần đều tởn đến già, chưa nói hai gan bàn chân sưng tấy cả tháng sau mới nhúc nhích được.

Tối đó trở về nhà giam, lên cơn sốt nóng rên hừ hừ, đồng chí bí thư chi bộ đến bên, vừa rửa nước muối vào chỗ đau cho tôi vừa rủ rỉ.

- Đừng làm thế, Sơn ơi! Chúng nó ăn lương chỉ để tìm mọi cách hành hạ mình. Đánh bạc thua cũng kéo mình ra nện. Đi uống rượu về cũng ghé phòng giam quật chơi vài hèo. Thậm chí vào ấp ghẹo gái không xong, trở về cũng trút hận vào đầu tù... Khiêu khích, ăn miếng trả miếng với chúng có ích gì, chỉ thiệt thân.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#18 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:26 AM

Ngay lúc đó tôi thấy lời khuyên ấy đúng nhưng càng về sau tôi thấy càng không ổn. Luật tù đày, mình càng xuống nước nó càng làm tàng... Mình gồng lên, dù trước mắt có tổn hại nhưng sau lại thoáng ra. Tuy vậy, qua câu nói của đồng chí bí thư, tôi cũng nghiệm ra một điều: Sự mềm mại khéo léo bao giờ cũng hái lượm được kết quả nhiều hơn sự thô ráp cứng queo.

Ví dụ, nhân một ngày lễ của ta, ngày Quốc khánh mồng hai tháng chín, tên đại tá chỉ huy trưởng nhà tù đi cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ xuống thị sát khu tôi. Thông thường vào những ngày này: Ngày toàn quốc kháng chiến, ngày thành lập quân đội, ngày thành lập Đảng, ngày sinh của Bác Hồ... chúng thường vô cớ lôi tù ra đánh chết bỏ, với hy vọng làm thế sẽ tiêu hủy nhuệ khí người tù do ngọn lửa của những ngày lễ ấy hun đúc lên. Về phía ta, ta cũng thường nhân những ngày quan trọng đó mà mở những cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi quyền được đối xử đàng hoàng như những tù bin chiến tranh... Cho nên đó là những ngày rất dễ dàng đẫm máu nếu không có sự chỉ đạo kịp thời.

Hôm ấy cũng vậy. Chắc muốn làm đẹp lòng tên cố vấn Mỹ mày râu nhẵn nhụi có cái cười thật giảo hoạt, tên đại tá Việt Nam bắt cả khu trên năm ngàn tù binh ra sân banh tập hợp. (Nên nhớ, trong tù một số khu có sân banh để lòe bịp các đoàn quốc tế, để xin đô la Mỹ nhét vào túi chứ có trái banh nào lăn ở đó đâu. Sân banh trong tư tưởng người tù thực chất chỉ là cái pháp trường, cái đấu xảo, cái nghĩa địa đẫm máu và nước mắt). Đối diện với năm ngàn người ốm yếu, rách rưới là một tiểu đoàn quân cảnh súng ống lăm lăm trong tay để sẵn sàng hủy diệt nếu có lệnh của thượng cấp. Hơn một trăm cái xác của khu Tân sinh hoạt diễn ra đầu tháng trước đã là một bài học đắt giá với chúng tôi ở những hoàn cảnh tương tự như thế này. Có một sự chỉ đạo chung mơ hồ từ đâu đó lan ra khắp các hàng tù: "Kiên Nhẫn... Hết sức kiên nhẫn và khôn khéo. Bằng giá nào cũng không để rơi vào âm mưu khiêu khích của chúng".

Thằng đại tá Trần Vĩnh Đắc, con rể của tướng Lê Văn Tỵ vung vẩy cái can bị bạc trong tay, giọng ngọt nhạt:

- Thưa các chiến hữu! Xin cứ được gọi các bạn bằng hai chữ chiến hữu và xét đến cùng chúng ta đều là người lính, chỉ khác người lính đứng hai đầu chiến tuyến. Nhưng không sao, chiến tranh thua thắng là sự thường phải không các bạn?

Nó mới nói tới đó, nhưng tôi đã thấy sôi người lên! Ai bạn bè, chiến hữu gì với nó. Hàng ngàn xác chết chôn ngoài nghĩa địa kia là từ đâu nếu không phải từ cái miệng dẻo quẹo có hàm râu con kiến và nụ cười nhã nhặn một cách giảo hoạt của thằng quan thầy nó kia! Nhưng một lực cản vô hình nén đè lồng ngực của chúng tôi lại. Thằng này xưa nay có ra mặt đứng trước tù nhân bao giờ. Bữa nay nó xuất hiện thế này chắc không phải là điều bình thường, chúng tôi chợt linh cảm thấy một điều gì đó ghê gớm đang sắp tiến đến.

- Hôm nay là ngày Quốc khánh của các bạn! Phần nào đó cũng là ngày Quốc khánh của tất cả chugns ta, có phải không? (im lặng) Tôi nói thế bởi vì ông Hồ Chí Minh của các bạn xét theo lăng kính lịch sử nào đó cũng là một thứ anh hùng dân tộc, chỉ tiếc sau đó ông đi sai đường. Rất tiếc, theo lẽ ông đã trở thành một thánh nhân của giống nòi này. Nhân đâu xin báo cho các bạn một tin không vui. Bác Hồ của các bạn đang trên giường chết. Ông sẽ chết như con người ra đời có sinh có tử vậy thôi. Chỉ buồn các bạn đi theo đường lối của ông mà nửa đường đứt gánh. Ông đã đưa tất cả các bạn vô ngõ cụt vô phương.

Tai ù đi, chúng tôi không còn nghe thấy gì nữa! Nó vừa nói cái gì vậy? Có thật như thế không? Hay lại chỉ là một động tác giả mà chúng tôi đã nghe đến nhàm tai. Bởi lẽ, thỉnh thoảng bọn giám thị đi qua, lại nói trổng vào phòng: "Cách mạng chúng mày tới số rồi!... Đại tướng Thanh của chúng mày ngoẻo củ tỏi rồi! .... A ha! Hà Nội bị san thành bình địa, những thằng tù cuồng tín kia có nghe rõ không?" hoặc "Bác Hồ của chúng mày sắp chết rồi!... Chết hồi hôm rồi..." Chúng tôi hơi đâu để ý đến lời khiêu khích gọi đòn của bọn khát máu nên làm thinh, mặc dù lần đầu nghe cũng thấy choáng váng. Chúng tôi bảo nhau: "Nó nói vậy là cách mạng đang lên. Nó nói Bác mất tức là Bác đang sống. Nó sợ, nó đang run sợ, đừng chấp. Được cái, nhắc đến Bác, thằng khốn nạn nhất vẫn phải gọi là "Bác" một cách kính nể, có thằng nào dám buông một lời hỗn láo về Ông Cụ đâu. Khoái!". Nhưng hôm nay lại do chính thằng này nói ra? Một thằng chỉ huy trưởng có học vấn, lại mang khát vọng một tương lai sáng lạn, liệu nó có dám cược cả danh dự của nó lẫn ông bố vợ đại tướng của nó để đổi lấy một trò đùa giỡn chơi có hại đến uy tín này không? Hay là... Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Trong hàng đã có những xáo động khiến bọn quân cảnh vội vàng tiến lên một bước dè chừng.

- Xin chia buồn - cái miệng ngọt nhạt nói tiếp - xin thành thực chia buồn với các chiến hữu phe đối nghịch. Càng đáng chia buồn hơn khi tất cả đều biết rằng bên cạnh cơn hấp hối của ông lãnh tụ Cộng sản đó, chính trị ủy của các bạn đang tan rã, rình rập hất đá nhau để giành quyền lực bá vương. Tin mới nhất: Tướng Giáp đã triệu hồi được hai sư đoàn tinh nhuệ kéo về bao vây Ba Đình, sẵn sàng dùng vũ lực tiếm ngôi.

Thế này thì khốn nạn thật! Nếu nó dừng lại ở mệnh đề thứ nhất thì đã gây được tác động, nhưng nó lại sa đà vào mệnh đề tiếm ngôi sau đó thì khác gì nhại luận điệu của đài BBC mà chúng tôi thường có dịp nghe hồi còn ở ngoài. Thằng con rể dòng dõi này mất tư cách thật rồi.

- Nhân ngày đáng nhớ này - Nó cao giọng - Bộ chỉ huy nhà tù quyết định tăng thêm khẩu phần ăn cho tất cả tù binh 0,1 gram cá mỗi ngày một đầu người.

Chúng tôi bụm chặt miệng để khỏi cười phá lên. Cả gram cá thôi đã phải vứt bỏ, tăng thêm 0,1 gram để làm gì? Thật đốn mạt. Nói đùa, chính câu nói đểu giả của hắn đã làm năm ngàn con người dịu đi. Thử hình dung xem: Nếu hôm đó chúng tôi biết tin Bác ốm nặng sắp mất thật thì điều gì sẽ xảy ra? Mậu Thân đã không đâu vào đâu, (xin lỗi, lúc ấy tôi nghĩ thế chứ đã được hiểu kỹ về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa chiến lược của nó đâu) rồi cuộc sống tù đày khổ ải, bây giờ lại Bác mất nữa thì đời cầm súng vô vọng quá! Vậy còn xá gì nữa mà không xông lên xé xác bọn ăn thịt người đang hiện diện ở ngay trước mặt kia. Năm ngàn con người có thể sẽ chết hết nhưng cái nhà tù này cũng chẳng còn gì. Thật phúc cho chúng nó và cũng... còn may cho chúng tôi.

Nhác thấy câu nói của mình không gây một hiệu quả gì trong đám đông, thậm chí những ánh mắt giễu cợt tù đó bay lên tỏa vào thân hình hắn, lại thêm cái nhún vai không mấy hài lòng của viên cố vấn Mỹ đứng cạnh chẹn ngang lấy họng, tên đại tá bảnh bao và choáng lộn những khuy bấm, khuy cài trên quân phục thoắt nổi giận, y vẫy tên trung tá Phước, trưởng ban chiến tranh chính trị lại gần, vừa nói cái gì đó vừa xỉa đầu can xuống đám tù đen đặc hết nửa sân banh. Tên Phước gật đầu rồi bật ngón tay. Một đại úy to con, đen đúa như người Nùng bước ra. Tôi nhận ra hắn là trung úy Long, giám thị trưởng nổi tiếng về sự tàn bạo và cũng chính vì thói quen tàn bạo đó mà hắn được vinh thăng từ thiếu úy lên trung úy, từ giám thị thường lên giám thị trưởng nội trong vòng ba tháng. Thằng này lấy chủ trương đàn áp làm sách lược. "Thằng cứng đá cho mềm, thằng mềm đá cho chết, chết rồi cần thiết dựng dậy đánh nữa!". Hắn thường tuyên bố như vậy và nhiều lần ra tay trực tiếp. Nghe đòn hắn học thuật đánh người từ Mỹ về và một khi hắn ra tay thì chẳng mấy người sống sót nổi. "Lành đập cho què, què đập cho què luôn!". Hắn cũng lại nói như thế và làm đúng như thế. Hắn đập tù ở mọi nơi, ở mọi lúc. Vợ hắn lên thăm, hắn vẫn đập, đập xong rồi thở hồng hộc cho vợ quạt mát rồi trở vào đập nữa. Mẹ hắn lên thăm cũng vậy. Bà mẹ đi đạo, không chịu nổi hành vi của con, đã buông lời khuyên: "Mày làm ác, sau này xuống địa ngục bị bỏ vạc dầu đó con". Nó trả lời: "Trước khi tôi bị bỏ vạc dầu, tôi cho mấy thằng Cộng sản cuồng tín này vào vạc dầu trước đã".
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#19 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:26 AM

Kềnh kệnh chuyển dịch cái thân xác nặng ít nhất 80 kilo ra trước hàng người, tiếng nói ồm vang như phát ra từ chum vại, tên trung úy ác ôn gườm gườm:

- Đ.mẹ! Bây giờ hô nghe bay! Tao hô gì thì bọn bay hô y sì theo đó. Thằng nào không hô bắn bỏ tại trận.

Phương án này các chi bộ Đảng chúng tôi đã dự kiến nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Những ngày đâu, chúng cũng tập họp bắt tù hô tầm bậy tầm bạ, anh em chưa có kinh nghiệm nên chơi rắn trở lại, rút cục chúng nổ súng xối xả làm thiệt mạng hàng chục người. Đầu óc thân thể chúng tôi căng chằng để chuẩn bị đối phó. Đây thực sự là một cuộc đấu trí mà cái giá phải trả là mạng sống của mình, và toàn bộ nội dung của sự đấu trí đó là cách hô lái để chuyển đổi ý nghĩa, vậy thôi.

- Nước Nam là của người Nam - Nó hét.

Câu này chuyển đổi không khó, chỉ việc đệm chữ "Việt" vào trước chữ Nam cuối cùng là xong, chỉ có điều phải đệm thật nhẹ, đệm bằng hơi gió, đệm như không đệm gì cả mới ổn. Chúng tôi hô:

- Nước Nam là của người Việt Nam...

Không rõ có hài lòng hay không, trung úy Long gào tiếp:

- Quân lực Việt Nam cộng hòa bất khả chiến bại!

Câu này rắc rối hơn một tí. Bất khả là không có khả năng. Khả năng là có, vậy chỉ còn cách hô ghép "bất khả thật nhanh "bất" hô nhẹ "khả" nhấn mạnh nghe như chỉ có mỗi chữ "khả" thôi. Bởi lẽ hàng ngàn con người đều hô thì việc còn hay mất, nhẹ hay nặng một chữ thật khó mà phân biệt. Tất nhiên, năm ngàn người không phải người nào cũng hô lái, được như thế, chủ yếu trông vào mấy hàng đứng đầu đã có ý sắp đặt trước, những hàng đứng sau chỉ cần ầm ào theo. "Quân lực Việt Nam cộng hòa... khả chiến bại!". Bọn tôi hô đúng như thế và lần này cũng thoát.

Câu cuối cùng:

- Chúng tôi nhất quyết không đi theo Đảng cộng sản Bắc Việt - câu này tương tự như câu trên, chỉ việc "nuốt" khéo đi chữ "không".

- Chúng tôi nhất quyết... đi theo Đảng cộng sản Bắc Việt!

- Tốt! Thứ tự giải tán!

Đại loại là như thế anh ạ! Thực ra xét đến cùng là hòa. Nó tưởng mình hô theo nó, mình biết mình hô theo mình. Nó có biết nó thua đâu và nó cũng đâu có hay mình thắng, nếu sau này nó phán đoán ra thì cũng muộn màng rồi, có thằng nào tự tay vả vào mặt mình bao giờ.

Nhưng nó lại có tác dụng khích lệ tư tưởng và siết chặt đội ngũ tù binh ghê lắm! Năm ngàn con người đều phát ra những lời thề công khai giữa nắng gió, phát ra từ lồng ngực u uẩn của mình kia mà.

Tuy vậy, đêm hôm đó về trại, tất cả chúng tôi đều không ngủ được. Lời thông báo của thằng đại tá Đắc cứ ám ảnh chúng tôi. Cả trại muốn ngồi dậy, muốn hỏi nhau, muốn tìm ở các đồng chí lãnh đạo một lời khuyên, một lời giải đáp nhưng không dám nhúc nhích. Đèn trong phòng sáng choang, chỉ cần ngồi tụm năm tụm ba, rì rầm trò chuyện là bọn quân cảnh ập vào thét lác rồi. Có lẽ đêm ấy tất cả chúng tôi, những người tù ở một hòn đảo xa ngái đều nhớ về Hà Nội, nhớ về Bác. Hình ảnh Bác chưa bao giờ sáng rõ trong trí não đã từng chai mòn đi vì những trận đánh đập bạo tàn của bọn như đêm nay... Bác Hồ ơi! Bác đừng chết nhé! Bác không thể chết... Cuộc chiến tranh còn đang lâu dài ác liệt, chúng cháu đang khổ cực lắm... Bác đừng bỏ chúng cháu mà đi... Bác Hồ ơi!

Trong đêm giá lạnh hun hút khí núi tràn về, những người tù không manh quần tấm áo nằm co quắp lấy nhau trên bệ xi măng đã thành tâm nguyện cầu như vậy. Hy vọng như vậy.

Đó là đêm mồng hai tháng chín năm 1969. Bốn mươi ngàn tù binh Phú Quốc đều chẳng ai ngờ rằng, đấy chính là đêm Bác vĩnh biệt dân tộc ra đi mãi mãi. Tin này mãi đến tối ngày hôm sau, tối mồng ba, chúng tôi mới biết! Một người lính quân cảnh vốn xưa này, có thiện cảm với trại tù đã chọn đúng phiên gác của mình mở khe khẽ cái đài đen bên hông làm bộ đi qua đi lại trước cửa tù... Ban chấp hành Trung ương Đảng... Hội đồng Nhà nước... Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đau đớn thông báo cho toàn thể đồng bao và chiến sĩ...Giọng chị phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam nấc nghẹn đã báo cho chúng tôi cái tin khủng khiếp đó. Chúng tôi cũng nghẹn lặng người đi... Thế là hết! Thế là không còn một tia hy vọng mỏng manh nào nữa! Tại sao lại có thể nhanh như thế được Bác ơi... Bác chết rồi! Bác chết thật rồi mà chúng cháu, những đứa cháu, những đứa con của Bác vẫn còn bị giam cầm tủi nhục ở đây! Chúng cháu không thể... Có lẽ đó là đêm đau đớn nhất của cả dân tộc và của cả chúng tôi. Đêm ấy không ai nói một lời nào, chỉ thỉnh thoảng trong phòng giam lạnh lẽo lại vang lên những tiếng thở dài, tiếng sụt sịt và cả những tiếng nấc nghẹn ngào không kìm nén được. Ngoài kia ngay những người lính quân cảnh cũng đi lại khẽ khàng hơn. Dưới ánh sáng đèn tù, thoáng thấy những đôi mắt ngấn lệ của một vài người trong đám lính rằn ri ấy...

Bác mất rồi! Phải biến buồn đau thành sức mạnh, người lính nào chả tự chủ lòng như thế nhưng ở trong tù, biến thành sức mạnh thế nào đây? Thành ra nỗi đau nhân đôi, đau trong sự bất lực. Song cũng kỳ lạ lắm! Chắc anh đã biết trong tù làm gì có đủ quần áo mà mặc; vải áo vải quần xé ra lau vết đau, lau mủ máu, lau vệ sinh sạch trơn rồi, nhưng không hiểu bằng cách nào, sáng hôm sau ngay trước cửa trại đã xuất hiện một hàng chữ trắng viết trên nền đen rộng một tấc, dài hai chục tấc: "Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại". Tôi hiểu đây là kết quả của công tác binh vận hoặc tầm nhìn xa có ý thức chuẩn bị trước của liên chi ủy trại tù. Nói thật anh ạ! Giữa nhà tù khổng lồ đâu đâu cũng rờn rợn khí tử thần, cái khẩu hiệu giống một chiếc băng tang đó thúc mạnh vào ngực ghê lắm! Ngay bọn giám thị cũng bị bất ngờ và choáng váng. Chúng chỉ dám lặng lẽ gỡ xuống rồi đem đi chứ không gầm gào như mọi lần. Bọn quỷ sứ cũng có một góc sâu thẳm trong trái tim đen tối giành cho vị lãnh tụ anh minh mà kích thước bao trùm lên trên cả những hận thù chính trị tầm thường.

Chưa hết! Ít ngày sau, chúng tôi được bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin: Bên đó anh em đã thay nhau trích máu vẽ lên một hình ảnh Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sau lại thay nhau? Thân tội tù gầy guộc tựa xác ve, chỉ một người làm sau đủ máu vẽ nên hình Bác? Phải mươi, mười lằm tù góp máu lại mới tạm gọi là có chút màu đỏ nhờn nhợt vạch lên tôn thiếc. Rất tiếc bây giờ cả khu tù không còn lại một dấu tích gì, chứ không trên tường thiếc đó chắc chắn vẫn còn những vệt đỏ mờ mờ. Bởi bì sau đó, bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách sao hình dạng đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#20 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:26 AM

Nghe đến đây, tôi siết chặt tay anh Sơn:

- Quý hóa quá! Rất cảm ơn anh Sơn đã cho tôi nghe được những kỷ niệm xúc động. Cảm ơn!

- Bây giờ tôi kể về vượt tù - Sơn chớp chớp mắt lảng đi cái siết tay của tôi - Nếu nói về vượt tù thì có lẽ nhà lao Phú Quốc là nơi có nhiều cách thức vượt phong phú thiên hình vạn trạng nhất trong các nhà tù toàn quốc. Tôi nói điều này không sợ võ đoán vì nhà lao này toàn quân nhân thì bao giờ cũng giàu năng lực hành động và bản lĩnh hành động. Người lính thường đồng nghĩa với sự quyết liệt phải không anh? Mà hành vi vượt tù đòi hỏi sự quyết liệt dữ lắm về cả phương diện tư duy lẫn phương diện thực hiện.

Ngoài chui rào, ngoài bám gầm e, chui thùng rác, thùng phân, ngoài đào hầm khoét ngạch... Một trong những phương diện quyết liệt ấy là đánh lộn, cướp súng trốn tập thể. Đây là dạng thức hữu hiệu thường được anh em áp dụng nhất.

Như anh đã biết, tù không phải chỉ là tù ngồi một chỗ. Ngày ngày, chúng sử dụng anh em đi làm đủ trò tạp dịch: bẻ củi, đào hào, chặt gỗ, dọn chuồng phân hố xí, giặt giũ, rào hàng rào... Nói chung đi bẻ củi về cho nhà bếp hay đi chặt gỗ trên núi về củng cố nhà trại là thứ tạp dịch chúng tôi chấp nhận. Nhưng bắt tù bỏ sức đi đào công sự, làm hàng rào để trói chặt thêm đời tù túng là chúng tôi không chịu. Không chịu luôn cả những tạp dịch tầm bậy như dọn chuồng phân hố xí cho lính hoặc nấu nướng giặt giũ, lấy củi cho vợ con nó. Các cuộc đấu tranh thường nổ ra ở mấy nội dung này và máu người tù cũng hay đổ ra ở đó. Đổ thì đổ nhưng phải đi hầu hạ kẻ thù và vợ con kẻ thù là dù có chết chúng tôi cũng không chịu. Sau này, thấy găng quá, chúng cũng bỏ qua luôn việc này.

Trở lại việc ra rừng bẻ củi. Rừng gần thì đi bộ. Rừng xa thì nhảy ô tô. Thoạt đầu chúng còn chủ quan lơ là cho rằng tù binh Phú Quốc có cho chạy cũng chẳng biết đi đâu nữa huống chi là trốn. Và chúng áp tải tù lấy lệ. Mười tù, có khi hai mươi tù chỉ có một hay hai lính cầm ngang súng nghễu nghện đi theo trông coi. Và gọi là trong coi cho có vẻ chứ vào mí rừng rồi là chúng bỏ mặc anh em, bấm nhau mò vào ấp kiếm rượu, kiếm gái giải khuây rồi chiều lại, huýt còi tập hợp tù trở về. Thật đơn giản và nhẹ nhàng. Thời gian đó tù không có hiện tượng trốn thật. Núi rừng mênh mang biển trời bát ngát, biết trốn đi đâu về đâu? Sau đó, nhờ có mấy trận đánh phục kích cướp tù của lực lượng cách mạng huyện thành công nên anh em mới hình thành ý thức vượt ngục và bọn lính cũng kìm kẹp gắt gao hơn. Trước là một kèm mười, sau là một kèm năm... một kèm hai. Thấy tù vẫn trốn được, chúng áp dụng luôn tỉ lệ một kèm một. Tỉ lệ này xuất hiện sau Mậu Thân, khi lượng tù lên quá nhiều. Anh thử hình dung mười người tù lẻo khẻo đi té lên té xuống lại có mười thằng lính vâm vạm, súng ống lăm lăm ghì gầm bên cạnh thì làm sao còn thoát được nữa.

Vậy mà chúng tôi vẫn thoát đó, thoát được cả bốn mươi hai người một lúc. Lần thoát đông đảo nhất trong các lần thoát ngục. Nhưng riêng tôi lại không thoát, thế mới khốn khổ chứ. Tôi xin kể.

Mùa mưa sắp đên, biết rằng chúng sẽ huy động tù đi bẻ củi ồ ạt để dự trữ, nên chúng tôi ngấm ngầm chuẩn bị. Trước hết là thành lập một đội hình ngon lành gồm toàn những người trẻ khỏe và chí cốt. Trẻ khỏe thì dễ rồi! Trong hơn một trăm người oặt ẹo, anh nào có sức một chút là lựa được ngay. Khái niệm "có sức" ở đây có nghĩa là còn ăn uống, còn đi lại được. Và thực chất chúng cũng chỉ chọn những người như thế để vào rừng. Vậy là cả ta lẫn địch đều ngầm chọn một đội hình sao cho thật khớp. Còn "chí cốt" thì cũng không khó mấy. Chỉ cần ở với nhau vài tháng là biết tư chất của nhau ngay. Anh nào gan góc, anh nào nhu nhược nó lộ ra lồ lộ không thể lẫn lộn được. Chí có cái anh làm mật vụ, làm chỉ điểm có khó phát hiện hơn một tý nhưng vẫn cứ lòi ra. Tuy nhiên, không chỉ căn cứ vào phong độ, tư chất chung chung. Từng tổ đảng, từng chi bộ bí mật đứng ra cử người, chọn người. Có người được chọn lại không muốn ra, có người không được chọn lại tình nguyện xin ra. Thành thử vấn đề nhân sự cũng xáo trộn rắc rối lắm.

Có nhân sự ổn định rồi, chúng tôi bắt đầu tranh thủ tập luyện. Trong tập luyện có cả rèn luyện thể lực và tập luyện kỹ thuật. Tập luyện lén thôi, tập luyện trong đêm, giờ ra sân hóng gió buổi chiều. Tập luyện hai người, ba người một. Tập luyện không cho kẻ thù đoán biết và không cho cả nội bộ được hay. Nước đời tù tội khó thế đó. Có khi đối phó trong nội bộ còn phức tạp hơn đối phó với kẻ thù.

Tất nhiên, trong năm mươi người phải có một người cầm đầu. Đây là một trận đánh táo bạo, có lên phương án thì dứt khoát phải có người chỉ huy. Có đó hoàn toàn bí mật, cái đó không thể công khai bàn tán, cử ra. Người chỉ huy cũng như người chủ trì Đảng thường là người khuất bóng nhất, thậm chí còn làm ra vẻ con người cầu an tiêu cực nhất để dễ bề che mắt, dễ bề chỉ đạo lãnh đạo. Nghĩ cũng hay! Trong lao tù, tất cả những khái niệm về địa vị, về quyền lực đều được xem xét dưới dòng chính thống. Chỉ huy ư? Lãnh đạo ư? Có vinh dự bổng lộc gì đâu ngoài một quyền lợi duy nhất: quyền lợi được khổ trước, chết trước mọi người. Chuyện kết nạp Đảng cũng vậy. Trong tù, qua thử thách, có những đảng viên thối chí không được mời sinh hoạt, có những đảng viên gần như vô hình bị loại ra khỏi Đảng (tôi nói "vô hình" bởi lẽ làm gì có một công văn chính thức quyết định hay khai trừ và ai đứng ra ký?). Nhưng cũng có những quần chúng ưu tú được gia nhập Đảng. Vào Đảng lúc này có nghĩa là tự đứng vào đội ngũ những người tính nguyện hy sinh vì sự sống của anh em. Cho nên khái niệm địa vị và quyền lợi chính trị lúc này thật hết sức trong sáng, hết sức nhân văn. Tôi nói thế không hiểu có đao to búa lớn quá không nhưng thực chất đúng là như vậy.

Tôi có một nghĩ ngợi bên lề: Trên chiến trường, người lính được sàng lọc hết sức ngặt nghèo, cái giả, cái thật, cái xấu cái tốt, cái cao thượng, cái thấp hèn không có chỗ lộn sòng. Người lính trong ngục tù, lại một lần nữa được sàng lọc nghiệt ngã hơn. Những cái gì bên ngoài còn mù mờ đánh lận được, vào đây được phanh phui ra hết. Vậy mà...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

  • (2 Trang)
  • +
  • 1
  • 2
  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Bạn không được phản hồi chủ đề này

1 Người đang đọc chủ đề này
0 thành viên, 1 khách, 0 người ẩn