Cộng đồng Đảo Ngọc - Phú Quốc: Phú Quốc ngày ấy - Nhà lao Cây Dừa (Phần 3) - Cộng đồng Đảo Ngọc - Phú Quốc

Chuyển đến nội dung

  • (2 Trang)
  • +
  • 1
  • 2
  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Bạn không được phản hồi chủ đề này

Phú Quốc ngày ấy - Nhà lao Cây Dừa (Phần 3) Truyện kể dài tập... Đánh giá chủ đề: -----

#1 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:30 AM

Lần đàn áp thứ hai khốc liệt hơn do có lẽ chúng đã rút được kinh nghiệm lần một, và cũng có lẽ do thằng chúa ngục cũ đã được thay bằng một thằng chúa ngục khác cuồng tín hơn.

Lần này là bọn tôi hè nhau ra yêu sách chống lập khu Tân sanh hoạt, chống chào cờ, chống hô đả đảo Cộng sản... Với lý do đã vô đây ai cũng như ai cả, không cần phải giả vờ đối xử phân biệt để chia rẽ đội ngũ những người tù. Tất nhiên là chúng không nghe. Nhà tù to bự thế này mà không có một khu đã được "bình định" thì chúng đâu còn lý do tồn tại nữa.

Chúng không nghe. Chúng tôi phá tấm bảng gỗ kẻ dòng chữ TÂN SANH HOẠT đen nhức đóng trên cửa. Thằng chỉ huy hất hàm hỏi:

- Anh em muốn gì?

- Chúng tôi không đồng ý treo cái bảng dơ dáy này trước cửa phòng giam. Đề nghị gỡ gấp.

- Sao trước lại chịu? - Mặt nó tím lại.

- Vì đàn áp.

- Vậy hả! Mắt nó long lên - Gỡ gấp hay chết gấp.

Chúng cho lính đàn áp. Chúng tôi chống lại, chúng lôi dây kẽm gai đến bao ví chúng tôi. Chúng tôi tuyệt thực, chúng bỏ luôn, đúng một tuần lễ, trong khi anh em đói khát ngất ngư hầu như kiệt sức tất cả thì chúng cho lính tràn tới, dùng M79, đạn lửa, trái cay phóng tới tấp vô trong phòng. - Tính ra đợt tàn sát này, khu Tân sanh hoạt mất đi gần hai trăm người. Bởi trước đó chúng dồn về đây gần 2.000 người: Hai trăm người ngã xuống do đấu tranh bảo vệ khí tiết nhưng vẫn tiếng để đời là dân phản bội chiêu hồi. Chú thấy có đau không. Riêng tôi, tôi phải chạy ra chui vô cầu tiêu hết một ngày mới thoát. Chỉ riêng một cái giếng nước anh em mình dồn xuống đó chết gần 60 người!

Lần đàn áp thứ ba và chống đàn áp thứ ba dữ dội hơn nhưng may mắn thiệt hại lại không đáng kể. Lần đó anh em diệt tên Xuân - nghi là gián điệp. Tên này quê quán ở đâu, vốn là loại người gì không biết. Chỉ thấy nó gây ra nhiều tai ách quá nên đang đêm phải chém chết rồi quẳng vào đống tro trong bếp. Sáng ra, chúng nó phát hiện được, mở cuộc điều tra ngay lập tức, nhưng không ai chịu nhận cả (sau này mới rút được bài học xuông máu là với những trường hợp như thế, tốt nhất nên có một người đứng ra can đảm nhận về mình để tránh cái chết cho cả trăm người). Không nhận thì chúng đàn áp. Thoạt đầu chúng dùng bốn chiếc xe bọc thép bao vây rồi lùa một trung đội quân cảnh đem theo dùi cui, mặt nạ, trái cay xộc vô từng phòng. Chúng đàn áp từng phòng. Nhưng lần này nhờ có chỉ đạo trước nên anh em siết đội ngũ đánh lại bằng ca, muỗng, củi, giày dép... Thấy vậy chúng kéo kẽm gai ngăn cách từng phòng và lại dùng thủ đoạn quen thuộc là bắn M79 và trái cay vào. Trong lúc đó ta đã bắt được bốn tên, trói nghiến đem thả xuống cầu tiêu làm con tin. Thế là chúng hòa đàm, hứa hẹn không dùng vũ lực nữa. Nhưng khi ta thả bốn tên này, chúng liền giở mặt bỏ đói anh em. Bỏ đói suốt chục ngày. Đói quá, phải lẩn mẩn gỡ từng hạt cơm khô đét còn giắt ở cọng chiếu nhét vô miệng. Miết rồi cũng phải cho ăn vì chúng đâu có dám để anh em chết hết.

Trận này hy sinh mười lăm nhưng cũng tạm coi là thắng lợi.

Anh Chu! Nghe ông Hai kể, em độ chừng lần đàn áp thứ hai chết gần hai trăm người ở khu Tân sanh hoạt này là vụ tàn sát lớn thứ tư, vụ tàn sát lớn cuối cùng trong lịch sử nhà lao Phú Quốc mà anh Ba Toản chưa kịp kể cho anh.

Như vậy anh em mình có thể kết luận được rằng nghĩa trang nhà lao dám phải lên tới bốn ngàn người như ta nói chứ không phải chỉ hai ngàn tử sĩ như nhận định ban đầu. Bốn ngàn trên bốn mươi ngàn! Một phần mười. Một con số tổn thất khủng khiếp khó hình dung nổi phải không anh?

Có lẽ chuyện của ông Hai Tỳ chỉ có thế. Nếu viết được em hy vọng anh không chỉ chú tâm vào miêu tả ba cuộc đàn áp này mà chủ yếu - Điều nay ông Hai Tỳ tuyệt nhiên không đề cập tới - là phải làm cho rõ về bản chất và tính chất của khu chiêu hồi để hậu thế có cái nhìn toàn diện hơn, ngõ hầu qua đó có thể biện minh danh dự cho không, ít người kiểu như ông Hai Tỳ.

Cuối cùng, em chép lại bài Sớ táo quân lên chầu trời được lưu hành trong khu Tân sanh hoạt mà ông Hai còn nhớ được để anh dùng làm tư liệu. Nhưng cũng là trích một đoạn thôi.


"... Kính tâu thượng đế
Tôi là táo quân
Được lệnh 23
Nhưng vì đường xa
Tàu bè không có
Vượt sóng vượt gió
Giá võ đằng vân
Vào chốn dương trần
Lên chầu thượng đê
Xin ngài miễn lễ
Rộng lượng thứ tha
Tại vì đường xa
Nên về quá trễ
Quỳ trước thượng đế
Xin kể việc trần
Táo quân Phú Quốc
Đầu đuôi sự thật
Của những trại tù
Ăn uống các khu
Tù binh Phú Quốc
Nói về vật chất
Thực phẩm hàng ngày
Ăn uống quá tai
Thường xuyên củ cải
Long hội (tức lôi họng) cá khô
chúng chẳng cho vô
Đường tiêu bột ngọt
Tháng năm thấm thoắt
Nghĩ cũng thật dài...".

Chúc anh mạnh khỏe và lấy được nhiều tư liệu.
Kính thư
Em!


Toàn bộ bức thư chỉ có thế, nhưng tôi thấy tự chiều sâu trong suy nghĩ nảy sinh những rung động thật sự với vốn tư liệu về khu Tân sanh hoạt này, nội phủ ngũ tạng lao Cây Dừa lại được phơi bày thêm dưới một làn ánh sáng nữa. Cuộc đời vốn dĩ không đơn giản, cuộc chiến tranh không đơn giản và nhà tù càng không đơn giản một chiều chút nào. Ngay trong bóng tối có điểm sáng và ngay trong ánh sáng cũng chứa thật nhiều hõm tối. Ma quỷ trong lòng ta, ai nắm tay được từ tối đến sáng. Tất cả những số phận và anh Hai Tỳ chỉ là một đang đòi hỏi được lịch sử xác minh. Xác minh cũng chẳng để làm gì, thời gian trôi qua cũng đã quá lâu rồi, song xác minh để cứu rỗi linh hồn - Nói theo đạo Chúa - Và để tìm sự bình yên trong lòng mà sống nốt quãng đời làm người lương thiện.

Anh Hai Tỳ là một trong số những người may mắn được trao trả năm "bảy ba". Còn bao nhiêu người nằm lại? Tỷ lệ những tử sĩ của khu Tân sanh hoạt bổ sung vào nghĩa trang Phú Quốc là bao nhiêu? Chắc cũng không quá ít để đến nỗi người ta nghĩ rằng nó cũng được "ưu tiên" như cái tên Tân sanh hoạt - chiêu hồi gợi ra. Rất may, trong hàng ngàn cái hài cốt còn lại không có người nhận, khong có cái nào, góc nào, khoảng nào trương bảng Tân sanh hoạt - chiêu hồi. Cái biệt danh nhức nhối này dồn tất cả sự nặng nề cho những người đang sống.

Mãi sau này gặp một người khác trong khu chiêu hồi, tôi có hỏi về chuyện người ta nói thành phần chiêu hồi chúng không cho vào diện trao trả mà bí mật thả riêng phải không? Người này buồn rầu trả lời: "Nói bậy! Trao trả chung hết. Chỉ có mấy thằng chiêu hồi ác ôn kiểu "trật tự viên" thì họa may mới nằm trong cái diện bí mật thả ra".

Thế là rõ! Trước tình thế diệt vong không tránh khỏi của chế độ Sài Gòn cũ, cùng với những đối tượng trung kiên đặc biệt bị đem đi thủ tiêu ở đâu đó, kẻ thù cũng bí mật thả sống cho những kẻ một thời cung cúc làm tay sai không công cho chúng. Ở trường hợp thứ nhất mang ý nghĩa trả thù tiểu nhân không muốn những đối tượng này trở về làm hạt giống đỏ đánh lại chúng. Ở trường hợp thứ hai là một sự ban ơn, chiếu cố cũng không có chút quân tử nào.

Gấp gọn lá thư của ngừoi bạn trẻ cho vào cặp, tôi thầm mong Quang, người chồng của bạn vợ tôi không nằm trong số được thả bí mật đó và cũng không rơi vào đối tượng bị đem đi thủ tiêu trước ngày hòa bình.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#2 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:33 AM

Xong thêm được một việc, trong lòng thấy vui vui, tôi nhảy xe đạp ôm tìm đến nhà Hồng để hỏi về hồi âm của những bức điện.

Lại chưa xong rồi! Hồng an ủi tôi ráng chờ thêm ít bữa nữa. Chả lẽ vài chục ngàn tù binh nằm rải rác khắp quốc gia này lại không có lấy một ai đào hầm đang còn sống?

Buồn quá! Tôi chợt nhớ đến ông nhạc sĩ Phan Miên và bản hợp xướng trong tù. Và bỗng lặng người đi! Trời đất ơi! Một mảng sống quý hiếm như thế sao lại có thể thờ ơ cho được. Có đánh đập, có tù đầy, có đàn áp và chống đàn áp, có vượt rào cướp súng, có niềm vui có nỗi oan, có gần đủ, tới đây nhất định sẽ có cả huyền thoại đào hầm, nhưng mảng tâm hồn, mảng trái tim nhạy cảm tù đày đã có một khái niệm nào đâu. Nhà tù chả lẽ chỉ toàn có đau thương và chết chóc thôi ư? Phiến diện và nghèo nàn lắm! Thế là tôi lại nhảy xe tốc hành phóng tới Sài Gòn trong một sự háo hức rất ư là nghề nghiệp và cũng hết sức trẻ thơ.

Hóa ra ông nhạc sĩ họ Phan này là chồng bà Tường Vân, nghệ sĩ kịch nói của đoàn kịch Nam Bộ ngày xưa và đoàn kịch Cửu Long Giang ngày nay - Đoàn kịch đã từng vang danh một thời trên sân khấu thủ đô với những "Câu chuyện Iêskut", "Lưu ba", "Máu thắm đồng Nọc Nạn"...

Chị Vân dạo này đã già, tóc bạc nhiều nhưng dáng dấp, nói năng vẫn xởi lởi đôn hậu như hai mươi năm về trước tôi đã có dịp tiếp xúc ngoài Hà Nội. Vốn là một cô gái quê lụa Hà Đông theo cha mẹ vào Nam từ cái thuở đi Công-Tra rồi trở ngược lại tập kết ra Bắc, tiếng nói của chị vừa Hà Nội vừa Sài Gòn nghe ngộ lắm!

Nhận ra tôi là người quen cũ và tìm đến có việc gì, trong ánh mắt mở to nơi chị thoáng một chút cảm động. Người vợ nào không xúc động khi một ai đó đụng tới những năm tháng đau thương của chồng mình, đó cũng là những tháng ngày vợ chồng xa cách, kẻ Bắc, người Nam, kẻ tù ngục, người bên ngoài. Do bận dựng chương trình, chỉ chỉ kịp vẽ cho tôi một cái sơ đồi vội vàng trên bao bì gói thuốc lá đường đi đến nhà riêng của mình.

... Sau khi bấm chuông cả chục lần và cũng tới cả chục phút đợi, cánh cổng sắt của một ngôi nhà trong hẻm Cao Thắng mới được lịch xịch chuyển động. Một khuôn mặt đàn ông chừng ngoài năm mươi tuổi ló ra dường như không có thần sắc. Ai vậy? Con người trông có vẻ bệnh tật này là Phan Miên đó chăng? Phan Miên... Cái tên này đã lâu lắm rồi không còn nghe thấy trên làn sóng các đài phát thanh. Một Phan Miên nhạc sĩ chỉ là nghiệp dư xuất thần viết nhạc trong tù? Cái dáng ngơ ngơ của khuôn mặt kia không nói lên được điều gì cả.

- Tôi bị nó đánh vào đầu mạnh quá, sau khi ra tù trên cho đi Đức chữa bệnh mất mấy năm mới gọi là còn được như thế này. Tuy vậy, cũng coi như bỏ nghề luôn. Cứ ngồi vào bàn, cầm lấy cây viết là đầu nó ong ong lên rồi thì còn sáng tác gì nữa.

Câu mở đầu chậm rãi, hơi lãng đãng của vị chủ nhà đã tháo gỡ cho tôi khá nhiều điều mà khỏi cần hỏi gì thêm nữa.

Do chấn thương nơi đầu, ông nhớ được ít lắm, cách nói năng cũng nhọc mệt lắm, mấy ngón tay đặt trên gối khẽ rung rung, nên buổi chuyện trò diễn ra thật vất vả. Tuy nhiên, khi cố gắng sắp xếp lại, đảo lui đảo tới phần này phân fkia, câu chuyện của ông cũng giúp tôi vỡ vạc ra thêm được một mảng tư liệu hết sức mới mà tôi chỉ có thể thuật lại bằng cái giọng của tôi để bạn đọc cảm nhận.

Phan Miên năm nay 58 tuổi, tức là ông sinh năm 1932. Ông là nhạc sĩ từ thời "chín năm" cùng lứa với tất cả các nhạc sĩ lão thành có tên tuổi hiện giờ.

Sau khi tập kết ra Hà Nội, đi học nhạc viện nước ngoài năm 1963, ông tình nguyện trở lại quê hương, công tác tại Ban tuyên huấn "Rờ". Năm 1967, nhạc sĩ Hoàng Việt cũng vào, cùng sống chung với nhau.

Một lần Hoàng Việt bảo: "Ông Miên! Tình hình có lẽ sắp có biến động lớn, tôi thường trực ở nhà, ông đi Cà Mau một chuyến nhé! Phân công này: Ông lo viết hợp xướng, tôi viết tiếp bản giao hưởng "Cửu Long Giang". Cả hai nhạc sĩ đều không hay rằng họ trực tiếp tham gia vào cuộc Tổng tiến công Mậu Thân bằng chính những nhạc phẩm cách mạng của mình, cũng như không hề lường được rằng đấy là chuyến đi cuối cùng của Phan Miên trong thời kỳ chiến tranh.

Vì cuối năm ấy, khi Mậu Thân chưa nổ ra, được điện Trung ương cục gọi về, anh đã bị địch đổ quân đánh úp và bắt tại Kinh Trâu Trắng. Đoàn có bốn người thì một chết, một bị bắt, hai chạy khỏi.

Bắt được anh chúng đánh phủ đầu luôn. Anh khai mình tên Minh, là giáo viên bình dân học vụ ở Cà Mau về Cần Thơ thăm vợ con. Được giải lên Đơzembuyrô (phòng nhì) Tổng tham mưu ở đường Tô Hiến Thành Sài Gòn anh cũng khai vậy. Qua phòng xét hỏi của bọn Mỹ, anh cũng không nói gì thêm. Một cô phiên dịch tóc vàng người Mỹ phải gắt lên: "Ông khai vậy không được! Phải có cấp bậc chứ, người Mỹ muốn vậy" "Nhưng tôi chỉ là giáo viên ngành Sơvin" "Việt Cộng mấy ông sao bướng quá! Thôi được, tôi cứ ghi cho ông cấp bậc hại sĩ vậy, chịu không?". Không chịu thì cũng đành chịu. Thế là nhạc sĩ Phan Miên, một con người không dính dáng gì đến nghiệp nhà binh bỗng dưng mang hàm hạ sĩ của quân đội Cộng Sản và cũng chính vì lẽ đó mà nhạc sĩ có mặt tại nhà lao tù binh Phú Quốc. Sau này ông mới biết thời điểm ấy mang tính bản lề của chiến cuộc, đối phương mang quân đi đánh úp tùm lum lấy số lượng tù binh để tìm một giải pháp chiến tranh có lợi nhất cho họ sau này.

Cuộc đời tù ngục của anh chắc cũng chẳng khác gì với cuộc đời tù ngục của những tù binh Phú Quốc. Nhưng vì là một người tù nhạc sĩ nên hy vọng rằng ở anh sẽ mang đôi chút bản sắc riêng để đại diễn cho những tù binh nhà báo, nhà quay phim, giáo sư, bác sĩ.... làm nên cái giai điệu tổng phổ của toàn bộ nhà lao đảo nhỏ.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#3 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:33 AM

Sẽ không một ai biết anh là nhạc sĩ, là một bí thư đảng ủy trầm mặc và anh vẫn sẽ chỉ tồn tại dưới cái tên hạ sĩ giáo viên bình dân học vụ nếu không có một chuyện xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1969.

Đó là chuyện những người tù bán tín bán nghi nghe tin Bác mất. Tin này do mấy thằng giám thị tung ra. Chúng tung hoài để nắn gân nắn khớp ta nên không tin. Về sau anh em đi làm tạp dịch lượm mảnh báo gói đồ ăn của lính mới choáng váng tin là thật. Tờ báo có chạy một hàng tít lớn: "... Thể theo đề nghị của Chính phủ Hà Nội, Hội nghị Pari ngưng họp một tuần để để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh...".

Giây phút đau đớn qua đi, người bí thư đảng ủy mang nghề nhạc sĩ quyết định làm lễ truy điệu Bác ở trong tù. Vừa là tấm lòng những người lính cách mạng đang sa cơ thất thế hướng về vị lãnh tụ anh minh, vừa là để củng cố ý chí xốc lại phong trào.

Lễ truy điệu thật là đơn giản và cũng thật là âm thầm nhưng nó lại đòi hỏi lòng dũng cảm nhiều lắm! Theo ý kiến của anh, ngày hôm đó hàng trăm tù nhất loạt bảo nhau đi làm tạp dịch không đội nón, không choàng khăn, không nói chuyện và không làm gì cả. Suốt một ngày chỉ ngồi nguyên trong trạng thái im lặng bất động.

Đêm xuống, kẻ thù bắt đầu khủng bố hàng loạt, xua hàng trung đội quân cảnh vào dựng dậy từng người tù mà đánh đập. Đánh chán, chúng bắt đi một số người được nghi là nòng cốt, cầm đầu. Chẳng may trong đó có cả một cấp ủy viên đang có những triệu chứng dao động. Ăn thêm vài trận đòn đau đớn quá không chịu nổi, người này đã khai Phan Miên để mong nhẹ tội.

Anh lập tức được gọi lên phòng xét hỏi kiêm tra tấn của bộ chỉ huy nhà tù. Thường là trong những vụ việc như thế này, người tù một là chết thảm khốc, hai là bị hạ nhục ê chề. Không hiểu sao, đối với anh chúng lại sử dụng dạng thứ hai. Có lẽ chúng tính thông qua người đứng đầu đảng này để làm một điển hình dằn mặt số đông.

Cũng lần nói thêm một chút về tiêu chuẩn để được bầu làm bí thư đảng ủy. Thực ra, nó chẳng có tiêu chuẩn gì cả. Thường dựa vào tuổi tác, nói năng và cung cách đối xử trong những tình huống đặc biêt. Anh chững chạc ư? Anh tỏ ra chín chắn vững vàng trong những giây phút biến động ư? Vậy thì anh em tin tưởng đề nghị anh đứng ra lãnh đạo đi! Thế thôi chứ có qua các bước phân tích lý lịch, cấp bộ đảng, thành phần giai cấp gì dài dòng đâu. Tất nhiên, nếu người ta biết anh là chỉ huy, là cán bộ đảng ở bên ngoài thì càng tốt. Phan Miên được tín nhiệm ở trường hợp này.

Chúng tập trung hết tù khu C3-Đ7 lại và trung tá Đinh Công Chất, trưởng khối chiến tranh chính trị, người Bắc, nhỏ con, mặt choắt trực tiếp đối thoại với anh. Thời gian ấy anh đang ở tuổi 35.

- Anh tên Miên, Phan Miên, Năm Miên, nhạc sĩ tập kết về chứ không phải là Minh đúng không? - Hắn hỏi.

- Đúng! - Anh trả lời vì đến nước này có muốn nói dối cũng không được nữa.

- Ồ! Thế có phải biết điều và có văn hóa hơn không? Chỉ có những kẻ yếu kém học hành mới ưa dối trá mà tôi biết chắc rằng vốn văn hóa của một nhạc sĩ không đến nỗi lắm. Phải không?

Anh biết rằng hắn đã bắt đầu giở trò và sẵn sàng chấp nhận cuộc đối thoại với một phong độ có thể nhất. Trước mặt đối phương, trước mặt đồng đội, anh, một người chèo lái tuyệt nhiên không thể tỏ ra nhu nhược cầu an. Dù có phải chết ngay tại đây thì cũng chết cho ra một con người, một đảng viên Cộng sản.

- Nhận định của trung tá theo tôi mới trúng một nửa - Anh trả lời hết sức ôn tồn - Trong cuộc sống có những sự nói dối cao quý và có cả những điều nói thật thấp hèn. Vả lại, xin ông trung tá cho phép tôi được nói thật, văn hóa cao hay thấp không hoàn toàn phụ thuộc chỉ vào nói dối hay nói thật. Nó phụ thuộc cái chính là cách đối xử giữa con người và con người.

Tên lãnh tụ chính trị nhà tù hắng giọng một tiếng, mặt hơi nhợt đi, hỏi một câu ngang hông:

- Anh có muốn ngồi không?

- Cứ để tôi đứng như mọi người. Hơn nữa toàn thân lở loét hết, có muốn ngồi cũng khó.

- Cùi mà còn sợ gì lở?

Hắn tung ra một câu hạ cấp không xứng với chức vị của hắn chút nào. Đám lính cười ầm lên để lấy lòng xếp của họ. Anh hiểu chữ "cùi" này hắn muốn ám chỉ vào tâm hồn què quặt, lý tưởng què quặt của người tù. Anh dựa vào đó trả lời luôn:

- Cùi chân cùi tay đâu có xấu. Cùi tim cùi óc thì mới thật là cùi, còn đáng sợ hơn cả lở loét.

Viên trung ta tâm lý chiến con cưng được đào tọa chính quy quệt thêm một cái cười nhạt nữa:

- Nói năng khá lắm, anh bạn nhạc sĩ! Bây giờ ta ngó thẳng vào sự thật nhé! Các anh ngớ ngẩn lắm! Thôi được rồi, chuyện mặc niệm hay truy điệu cụ Hồ Chí Minh tôi bỏ qua, bởi vì mấy anh có quyền làm như vậy và cụ Hồ xứng đáng được như vậy. Dù bên này hay bên kia, dù Cụ là lãnh tụ của phe đối nghịch nhưng chúng tôi cũng để đàng hoàng để biết rằng về một khía cạnh nào đó của lịch sử, Cụ vẫn là anh hùng dân tộc. Ở đây, lúc này tôi muốn hỏi anh một chuyện khác: Khi còn ở ngoài, súng ống nườm nượp, Nga xô, trung cộng trợ giúp ào ào, mấy anh còn đánh không lại - Mậu Thân vừa qua là một minh chứng hùng hồn - Vậy thì lúc này bị bắt, thân phận cá chậu chim lồng, mấy anh còn mong muốn cái gì mà bày đặt đấu tranh nọ kia cho tốn hao sức lực?

- Thưa ông! Trong một xã hội có phân chia giai cấp, lẽ phải bao giờ cũng nằm ở cửa miệng những người bị áp bức mà lâu nay người ta hay võ đoán, cho rằng nó nằm ở kẻ mạnh. Bởi chăng, coc cóc mình nhỏ nhưng nó khiến được trời mưa, con ếch ương to xác mà chỉ đủ sức kêu theo nước.

Biết là đối thoại thêm cái kiểu này sẽ không nói lại được anh, hắn chuyển làn:

- Là một nhạc sĩ, tức là một nghệ sĩ tại sao không kiếm một nơi yên tĩnh mà làm việc lại nhào vô chiến cuộc làm gì cho mang lụy vào thân và sự nghiệp tiêu tan luôn?

- Vâng, thưa ông! Là kẻ sĩ ai chẳng ước ao như thế nhưng đất nước can qua, non sông bị xâu xé, kẻ sĩ từ xưa đến nay vốn có truyền thống cao đẹp "xếp bút nghiên tính việc đao binh". cũng như ông trung tá, tôi biết ông là một cử nhân luật, lý do gì đó mới khiến ông có mặt ở đây? Còn sự nghiệp tiêu tan ư? Có thể nhưng cũng chưa hẳn thế. Nếu một nghệ sĩ biết gắn đời mình cho những bước đi hào hùng của dân tộc thì có nghĩa là anh đang tự hun đúc năng lực nghệ sĩ của mình. Tôi thấy...

- Tổ chức Đảng của anh ở trong tù làm những cái gì? Hắn cắt ngang, đôi mắt đã đỏ vằn lên.

- Làm tất cả những gì có thể làm được để giữ quyền làm người trong cuộc sống tù ngục.

- Giỏi lắm! Vậy tại sao hồi tết 1968, tù binh mấy anh cũng làm reo đòi hỏi bậy bạ nọ kia khi cái bụng đã được ăn no? Phải chăng trong cái đầu cộng sản của mấy anh chỉ chứa toàn nọc độc của loài giặc cỏ, thích la hú, thích phiến loạn?

Không khí đã quá căng. Bên đám sĩ quan và đám quân cảnh đang im lìm, chỉ chờ lệnh là hành động, chúng không có cớ gì để cười tán thưởng thế áp đảo ngôn từ của thượng cấp nữa. Còn bên anh em tù xiêu vẹo rách rưới cũng thật sự lo lắng. Nhưng đôi mắt đỏ ghèn, trũng sâu mở rộng day dứt không hiểu tình thế này nếu kéo dài sẽ đi đến đâu.

Trước tình hình đó, anh buộc phải xuống giọng mặc dù bao nhiêu ý nghĩ nhức nhối tích tụ bấy lâu đang đòi được bung tỏa ra khỏi miệng, mặc dù đây là một dịp hiếm hoi để khẳng định thế thắng thua trước khi kẻ thù đang đắc chí và nhân thể răn dạy cho đối phương một bài học. Anh trả lời:

Nói ông trung tá bỏ qua, chuyện này ông hiểu lầm rồi đấy ạ! Chúng tôi không đòi ăn mà đòi có được một chút hương vị tết cổ truyền dân tộc. Không nói là tù binh chiến tranh mà ngay là kẻ tử tù ngày mai lên giá treo cổ, họ vẫn có quyền được hưởng cái hương vị cuối đời này kia mà. Ông bà ta khi dong buồm ra biển bao giờ cũng cúng heo để cầu mong sự tốt lành. Giàu cúng cả con, nghèo cúng đầu, chúng tôi cũng có thể cúng móng được chớ. Nó là lẽ phải, là đạo lý, là tâm linh dân tộc không thể bỏ qua được trong hoàn cảnh nào, dù chỉ một miếng dưa hành.

- Thôi! Đinh Công Chất nhìn đồng hồ hay tìm cớ nhìn đồng hồ - Nói chuyện với anh như vậy là tạm đủ. Tôi không có nhiều thì giờ. Nhưng phải thừa nhận đây là một cuộc nói chuyện thú vị trong cuộc đời làm quân cảnh của tôi, đây là lần đầu tôi gặp được một tên Cộng sản như anh - Hắn quay lại đám sĩ quan dưới quyền - Để minh chứng tính chất dân tộc và công bình của phía chính nghĩa Quốc gia, tôi xin hứa sẽ không động đến một cái lông chân của anh, mặc dù với tất cả những tội lỗi, anh đáng phải đem ra tòa án binh xét xử và nghiêm trị. Giải tán!

Về sau anh mới hiểu đó chỉ là cách rút lui nhún mình có danh dự của tên trưởng khối chính trị. Bởi lẽ ngay sau đó, khi chiếc xe zeep đưa hắn đi khỏi, tụi lính xông vào đánh anh thừa sống thiếu chết. Tệ hại hơn, sớm hôm sau chúng đưa anh đi đày ở nhà lao cấm cố Khu 2. Một thứ biệt giam của biệt giam. Trong ký ức của những người tù còn sống sót, biệt danh "Khu 2" mãi mãi là một nỗi ám ảnh kinh hoàng.

- Có lẽ loại biệt giam vô nhân này, những người khác đã nói cho anh nghe cả rồi - Anh Phan Miên nhỏ nhẹ nói tiếp sau khi đã uống thêm hai viên thuốc đau đầu - Mười hai khu, mỗi khu đều có biệt giam, nhưng chúng nó nhốt tôi vào biệt giam Khu 2 là biệt giam ác ôn nhất. Nơi đây, người tù phải ở tong những căn nhà dù ba mét bề ngang, tám mét chiều dài, vậy là 24 mét vuông. 24 mét vuông nhốt 24 người đã gọi là chật, đã khó bề cục cựa lắm rồi, nhưng anh biết họ nhốt bao nhiêu không? Gấp đôi à? Hay gấp ba? Không! Gấp ba mới có hơn bảy mươi người. Gấp bốn? Gấp năm chăng? Ừ, thì cứ cho là gấp năm, tức 120 người là đã quá sức tưởng tượng. Đây họ nhốt 197 nhân mạng trên 24 mét vuông, tức là trên một mét vuông hôi thối đó, chúng tôi phải sống 8 người. Khốn khổ! Mà có được ở hết 24 mét đâu, chúng còn cắt ra 2 mét để làm phòng tra tấn nữa! Anh là nhà văn, anh thử tượng tượng ra cái ảnh 8 con người ghẻ lở, phù nề, máu me hôi hám chung đụng nhau trên một mét vuông nhà bạt thì sự thể nó sẽ ra thế nào? Phải chồng lên nhau chứ gì? Nhưng mà chồng thế nào kia chứ. Nằm thì không được rồi, nhưng đứng hết hay ngồi hết cũng không được nữa. Mà đâu chỉ ngày một ngày hai, phải trải qua hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng kia, mùa mưa cũng như mùa nắng. Sao đây?... Thôi, cái đó để anh hình dung, tôi chỉ cần nói rằng trong căn nhà bạt đó lèn chặt, nhung nhúc thịt người. Cũng còn may, anh em tù hồi đó đều da bọc xương cả, chỉ nhẹ bằng phân nửa kí lô bây giờ, chứ nếu ai cũng dềnh dàng cỡ 60 kí lô như tôi hiện nay thì chắc chết tức hết rồi. Thì đó, gần hai trăm con người đi cầu vào một cái thùng thuốc sâu 20 lít cả tháng không đổ mà vẫn không đầy thì anh biết người ngợm chúng tôi hồi đó như thế nào.

Nói anh nghe chơi vậy thôi chứ lúc này ngồi đây mà nhắc tới tất cả những cơ cực chúng tôi phải trải qua, e lại phải đi nằm viên mất.

Tôi muốn để anh hiểu một khía cạnh khác. Đó là sự thâm độc của kẻ thù. Họ cố tình dồn đẩy cuộc sống người tù đến lằn ranh khốn nạn tối đa để tự cắn xe nhau mà khỏi mất công gì cả. Con người vẫn là con người anh ạ! Nhưng rơi vào một hoàn cảnh quá khắc nghiệt nào đó, con người dễ có xu hướng trở thành con vật mà không tự biết. Kẻ thù chỉ mong có vậy.

Trong những căn nhà bạt ngột ngạt đó, đã có lúc con người trở thành con vật. Ăn cũng tranh giành nhau, uống cũng tranh giành nhau, ngủ cũng vậy và ỉa đái cũng tranh giành nhau nốt.

Mỗi bữa chúng phát cho hai xô cơm, hai xô nước. Xô là gì? Là cái cà mèn quân dụng hai chụt lít. Hai chục lít cơm cho hai trăm con người, mỗi người được bao nhiêu? Thế là thành kẻ ít người nhiều mặc dù đã cắt cử một người mực thước nhất, bàn tay ít mụn ghẻ nhất để chia cho đều. Mà đều sao được, khi không có một cái muỗm nào hết. Tất cả khum khum vào lòng bàn tay, tợp lên miệng một miếng là hết. Vậy là cãi cọ, là chửi mắng lẫn nhau. Uống cũng vậy. Người bưng trước uống nhiều, người bưng sau uống ít, ngừoi sau nữa không còn gì để uống, và lại cãi cọ, lại cắn xé. Còn chuyện ỉa đái? Thôi, điều này không nói chắc ăn cũng thừa hiểu. Ngày nào cũng diễn ra cái cảnh ấy, đau đầu lắm, nhục lắm. Đã hết đâu. Thỉnh thoảng ở cái hai mét kế bên, chúng lại lôi người lên đánh. Tiếng rú rít, tiếng la hoảng dội qua vách vải bạt nghe hãi húng lắm. Kẻ thù muốn tận diệt ý chí và nhân cách anh em ta. Chúng cố tình tạo một địa ngục bên cạnh một địa ngục, một địa ngục con trong địa ngục to.

Trước tình hình đó, mấy đứa lớn tuổi chúng tôi bảo nhau ổn định lại mọi chuyện. Tại sao lại mấy đứa lớn tuổi? Ăn ở như vậy còn Đảng còn Đoàn gì nữa đâu; bản thân tôi mới sang, đã ai biết mình là ai mà dám đứng ra nhận vai trò lãnh đạo, chỉ con trông vào mấy người lớn tuổi vì trong cái mớ láo nháo như vậy, người lớn tuổi thường đồng nghĩa với cấp bậc cao, từng trải nhiều, dễ được anh em tín nhiệm. Ổn định bằng cách nào? Bằng cách tự mình gương mẫu trước và khẽ khàng rỉ tai từng người đừng để rơi vào âm mưu địch. Người này rỉ tai tiếp người kia, miết rồi anh em cũng chợt tỉnh ngộ, chợt nhớ đây là đâu và ghìm cái nhu cầu bản năng xuống. Từ đó, trong bữa ăn trở nên có trật tự hơn. Mỗi người đều có một nắm cơm chim chim vừa bằng cái hột vịt, của ai người đó ăn từ tốn. Nước uống thì sao? Anh em tự giác nhường người già, người đang đau bệnh uống trước, người trẻ, còn khỏe uống sau nên cũng tạm đủ, thậm chí còn một chút đáy xô khoát ra cho người chi cơm rửa tay.

Những lúc ấy, thay vì trước đó là ánh mắt khinh miệt và đắc chí của bọn giám thị thì nay nó trở nên hằn thù, tức tối và có cả ánh mắt ngạc nhiên và kính trọng.

Cuộc chiến đấu với bản thân mình để đừng đánh mất đi tính người trong tù ngục là cuộc chiến đấu cam go khốc liệt nhất. Và không phải bao giờ cũng chiến thắng anh ạ!
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#4 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:34 AM

Tuy nhiên, trong số giám thị, quân cảnh đó vẫn có một con quỷ đội lốt dạng người, từ đầu tới cuối vẫn chỉ một trái tim hằn thù và tức tối. Đó là tên thượng sĩ Nhu. Nhu theo đạo Phật, trong phòng riêng có cả một bàn thờ khói hương nghi ngút nhưng hắn lại hành động như một con quỷ sa tăng. Dường như hắn sinh ra để đánh đập, để được hành hạ người khác, dường như mỗi một ngày không nhìn thấy máu, thấy chết chóc là hắn không chịu được. Chỉ bằng một tay thước bằng gỗ lim, hắn đã lần lượt đánh văng mắt cá chân của một phần ba số anh em tù. Lâu lâu được lên trạm xá chữa bệnh theo thủ tục, nhìn thấy anh em bò lê bò lết qua sân, hắn bật lên những tiếng cười gằn cực kỳ man dại.

Không hiểu sao thằng này có vẻ thù tôi! Nó thù hay nhân danh thượng cấp một lần đối thoại với tôi không mỹ mãn mà thù, tôi không thật rõ. Chỉ biết, thỉnh thoảng vô cớ nó lại cho lính lôi tôi ra chuồng cọp nhốt chơi vài ngày. Nó bảo: "Ra đó mà sáng tác nhạc ca ngợi cách mạng".

Chuồng cọp là sao chắc anh nghe kể rồi. Cao một mét, dài hai mét, chính giữa chăng kẽm gai, không nằm không ngồi, không đứng được, suốt đêm ngày cứ lom khom như con chó sắp được mang đi bán ở chợ. Có lần mệt quá, tôi thả đại đít xuống đống đinh nhọn, ngủ lịm đi. Đang mơ màng nằm mê thấy mình được trở về nhà thì nó bấm đèn lù lù đi đến. "Ê, dậy mầy! Tắm cái cho mát!". Thế là nó đổ cả xô nước đái lẫn cứt vào khắp mặt tôi. Kỳ lạ! Người ngợm nhoe nhoét mụn nhọt, nước cứt, nước đái thấm vào như thế mà sao không nhiễm trùng gì cả? Sau khi ra tù trở về với vợ con, mỗi lần tôi dẫn thằng nhỏ đi tắm, nó lại hét toáng: "Má Vân ơi! Đít ba có hoa, kỳ lắm!".

Tuy thế, hắn cũng chỉ là một con quỷ nửa vời, chính mắt tôi đã trông thấy hắn quẳng người ta vào chảo nước đang sôi sùng sục mà không thay đổi nét mặt. Nhưng đến khi có một tù khác căm hận và dũng mãnh dâng ngút đầu, không chờ hắn nắm chân nắm tay, đã ngang nhiên lột bỏ quần áo rồi từ từ bước vào chảo thì hắn thét thôi và bỏ chạy.

Năm kia, một lần cùng với mấy ông bạn già đi xuống Hậu Giang có chút việc, tôi vô tình gặp lại hắn trên bắc Mỹ Thuận. Chắc chắn vừa trải qua một lớp cải tạo trở về. Trông hắn rạc rài tiều tụy đi nhiều quá, trong khi tôi lại đỏ đắn béo tốt ra. Số phận đi ngược chiều nay có mai không chẳng biết thế nào mà lường, đúng như Mạnh Tử đã nói. Nhận ra tôi, hắn tái mét mặt, chân bước giật lùi, một chút nữa đạp phải mâm bánh ướt nếu bà bán bánh không chửi ré lên, lôi lại. Hắn sợ tôi trả thù. Mà cũng đáng trả thù lắm chứ. Đâu có phải chỉ riêng tôi, còn là thân xác đau khổ, chết chóc của hàng trăm người! Đâu có phải cái đầu tôi mang bệnh tật suốt đời, còn bao nhiêu người khác may mắn sống sót cũng đầy những dấu vết đòn thù như thế! Trong phút chốc, tôi muốn xô đến, tóm lấy ngực hắn và đẩy hắn nhào xuống sông nhưng rồi không hiểu sao tôi lại dừng lại, phải chăng do nắng gió chứa chan, do cuộc đời còn bao điều vướng bận lo toan, do những ngày kinh hoàng đó đã lùi quá sâu vào dĩ vãng rồi mà tôi thành ra lơ đãng. Nhìn hắn với cái nhìn thương hại, không chút hằn thù, tôi quay đi! Xét cho cùng, cũng chẳng phải do một mình hắn, đằng sau hắn còn có biết bao thế lực mơ hồ cao, thấp đã tạo nên nỗi thống khổ cho hành tinh này. Hắn chỉ là nạn nhân, một thứ nạn nhân đáng tội nghiệp. May cho hắn làm sao! Nếu ở một quốc gia bạo lực nào khác, những sinh vật như hắn chắc đã nát ngực cả ba đời vì những tràng đạn trả thù rồi.

Sau khi qua phà, tôi kể chuyện này cho mấy ông bạn già nghe. Một ông nổi nóng, quắc mắt lên: "Sao ông không nói để tôi lấy gạch ghè từng cái răng của nó xem ngày xưa nó khẻ răng anh em mình như thế nào!".

Sau này tôi được nghe nói con người ấy đã chết vì điên loạn sau khi mấy lần vượt biên không thoát. Điên vì tiếc của hay vì sự sám hối cắn xé lương tâm hắn, tôi không biết. Nhưng ở đời bao giờ cũng có luật bù trừ, ác giả ác báo là lẽ thường.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#5 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:34 AM

Bạn đọc thân mến!

Nếu kể hết về quãng đời tù ngục của người nhạc sĩ này thì tôi phải viết riêng thành một cuốn, bở lẽ nó có rất nhiều cái để kể. Nhưng lan man quá e rằng sẽ bị loãng tuyến truyện chính vì như trên tôi đã nói, tôi muốn thông qua hình tượng này để hiểu sau về thủ đoạn và âm mưu của kẻ thù cũng như tài trí và lòng dạ thủy chung với cách mạng của quân đội ta, trước hết là ở những pha đối chất mang tính đấu trí gay cấn.

Tôi xin phác lại một vài màn đối chất nữa của những người tù sĩ quan trong nhà lao Phú Quốc.

Sau khi nằm ở đây 11 tháng chưa chết và cũng chưa đầu hàng, Phan Miên được chuyển qua trại sĩ quan miền Bắc gồm một cộng đồng tù nhân 4.000 người.

Một buổi sáng năm "bảy hai" có chiếc GMC bon bánh vào trại kêu tên năm người lên bộ chỉ huy. Năm người này toàn cấp tá và trí thức gồm: Ba Sinh (tức Nguyễn Chí Sinh) nguyên Phó tư lệnh quân khu Năm, Vũ Ngọc Phán, Sang ở Thừa Thiên, Nghĩa ở Đồng Tháp nguyên là cán bộ tuyên giáo học ở Nga về và Phan Miên. Toàn những cán bộ nòng cốt cả nên con mắt anh em trong trại thầm vĩnh biệt với ý nghĩ chắc rằng chúng mang đi thủ tiêu. Nhưng hoàn toàn ngược lại. Lên đến bộ chỉ huy, chúng đưa mỗi người vào một phòng riêng và tuyên bố: "Bữa nay Cộng sản và Quốc gia nói chuyện sòng phẳng chơi. Các anh có thể nói tự do, nói hết những cái gì được nhồi nhét trong sọ, chúng tôi hứa sẽ không trả thù".

Phan Miên ngồi trước mặt hai người đại úy còn trẻ măng, mặt mũi sáng láng, nói năng hòa nhã. Họ mời anh hút thuốc, uống nước rất đàng hoàng. Nhìn gói Cap-stan, Phan Miên thèm rỏ dãi nhưng anh chỉ dám hút vài hơi rồi kín đáo dụi đi, nhét túi tính lát nữa mang về cho anh em mỗi người hưởng một chút.

- Chúng tôi mời anh lên để cùng bàn bạc với nhau về nền văn hóa xã hội chủ nghĩa của anh cũng như bàn về tự do tư tưởng, tự do sáng tạo của chúng tôi.

Và gần hai tiếng đồng hồ, hai viên đại úy này thao thao nói đủ chuyện, lúc hỏi, lúc lên án, lúc lại gật đầu chấp nhận. Theo họ, chủ nghĩa xã hội là không tưởng, là siêu hiện thực nên nền văn hóa xã hội chủ nghĩa cũng là nền văn hóa phi nhân tính, đặc sệt màu sắc chính trị. Chế độ cộng sản bản chất là mất dân chủ, không chấp nhận cái cá nhân, chỉ chuyên lo những cái đâu đâu ngoài cuộc sống tự nhiên của con người nên chế độ ấy dứt khoát phải o ép những người làm văn hóa, làm nghệ thuật. Nghệ thuật được sáng tạo dưới lưỡi dao của chuyên chính vô sản thì còn gì là nghệ thuật nữa. Nó chỉ còn là băn văn tự kêu vang và rỗng tuếch... Họ nói nhiều lắm, nói lúc căng lúc chùng và anh lấy làm kinh ngạc khi thấy hai con người trẻ tuổi này biết nhiều đến thế, lại thỉnh thoảng đá sang cả các phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác nữa.

Đây là một hiện tượng lập dị xưa nay chưa hề có trong nhà tù địa ngục này nên thoạt đầu anh hoang mang không biết chúng định giở trò gì. Sau thấy hai con người này nói hăng quá, nói chân thành quá mà lại sai bét tất cả nên Phan Miên nóng máu dần lên. Tất nhiên chúng biết anh là văn nghệ sĩ mới đem toàn những điều về tự do hay mất tự do sáng tạo ra mà nói, nhưng đã động đến cái vỉa ngầm đang sôi sục trong đầu nên Phan Miên cũng tranh luận lại thẳng căng không kém. Nhân danh một nhạc sĩ cách mạng, anh nói hết những nhận thức và cảm xúc của mình từ khi bước vào con đường cách mạng cũng như những nhạc phẩm của anh, của bạn bè anh được ra đời trong không khí lãng mạn như thế nào. Giọng hai người này dịu dần, thay vì những cái lắc là những cái gật, cuối cùng họ đứng dậy bắt tay anh: "Ông nhạc sĩ, cám ơn ông về buổi nói chuyện lý thú này. Hẹn gặp lại ông trong một hoàn cảnh khác vui vẻ hơn".

Nhưng lời hẹn ấy đã không thành vì chẳng bao giờ ông còn gặp lại hai viên sĩ quan đối địch đang tập nói, tập nghĩ ấy nữa.

Buổi trưa về trại, năm người ngơ ngác hỏi nhau: "Không phải phỏng vấn, mà cũng không phải hỏi cung, chúng giở cái kểu gì ra ấy nhỉ?". Cả năm người đều rơi vào một cảnh ngộ giống nhau cả. Phan Miên là nghệ sĩ, chúng bàn về nghệ thuật, Ba Sinh là chỉ huy, chúng bàn về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, anh Sang là bí thư huyện ủy chúng nó nói về chủ nghĩa Mác và vấn đề ai thắng ai; còn anh Nghĩa học Nga về, chúng cãi nhau với anh về cuộc sống của tư bản với cuộc sống của cộng sản khác nhau điểm nào...

Mãi mấy tuần sau mọi người mới vỡ lẽ ra, cái đám sĩ quan lắm mồm nhiều chữ nghĩa ấy là lớp đào tạo cán bộ chiến tranh chính trị cho hậu chiến khi Mỹ kết thức chiến tranh xuống nhà tù để thực tập. "Hóa ra nó mượn mình làm thầy nó nó trong hai tiếng à?" Anh Ba Sinh kết luận và tất cả cùng lắc đầu cười to.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#6 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:35 AM

Nghe nhắc đến tên Ba Sinh, tôi giật mình và ngắt lời anh:

- Anh cùng sống với anh Ba Sinh à?

- Cùng phân khu nhưng khác trại.

- Tôi nghe nói vào trong đó, anh ấy không giữ được khí tiết đã khai ra một căn cứ nên bây giờ vùng Châu Thành, Thủ Dầu Một vẫn còn lưu những cái tên: "Đường tăng Ba Sinh", "Bãi bom Ba Sinh", ám chỉ những địa danh bị càn quét, bị đánh điểm. Nhưng lại có lúc nghe Ba Sinh là cán bộ Đảng chủ chốt trong tù?

Anh Phan Miên trầm ngâm giây lâu rồi mới nói:

- Ba cái vụ này khó lắm ông ơi! Thực hư sai đúng thế nào rất khó xác minh, ai mà đã đứng ra làm động tác xác minh nào đâu. Đúng ra tôi cũng nghe lào phào như thế nhưng hàng ngày vẫn thấy phong cách ông ấy đường hoàng chững chạc lắm và có sự kiện gì, anh em vẫn thường tìm đến ông xin ý kiến.

Tất nhiên cái sự tìm đến này nó còn phụ thuộc vào một điều: Ông ấy là thượng tá công khai, tức là người tù có cấp bậc cao nhất được mọi người đều biết và trong khi không biết rõ Đảng là ai, cấp ủy đang là người nào thì chỉ còn cách hỏi người có quân hàm cao nhất chứ biết hỏi ai.

Trực tiếp mắt tôi nhìn thấy thì nổi cộm lên hai việc này: Sau Mậu Thân, một số anh em miền Đông vào tù, và nhìn thấy Ba Sinh đã nói luôn: "Ông chiêu hồi, khai tùm lum để chúng nó oánh vô căn cứ tan nát ráo trọi!", Ba Sinh chỉ khẽ thở dài không nói gì. Tôi hỏi mấy anh kia: "Có tổn thất gì lớn không?", "Không! May mà không chết người nào. Nếu chết bọn này đã bắt lão ta phải đền mạng". Tối hôm đó, tôi rủ rỉ tâm sự với Ba Sinh và được anh ấy bộc bạch: "Tình ngay lý gian, biết nói sao bây giờ? Tôi không chiêu hồi, không khai báo gì hết trơn nhưng họ khích, họ lăng nhục chịu không được phải bật ra, cũng may chỉ bật ra những địa hình vô hại", "Khích thế nào? Một sĩ quan cao cấp như anh mà cũng rơi vào bẫy chúng ư?". "Thế mới sinh chuyện. Họ nói: Mấy anh quân số lèo tèo, vũ khí gỉ nát, căn cứ không có, rúc bờ chui bụi mà đòi tổng tiến công. Thế là nóng lên mất tỉnh táo, tôi nói sao lại bờ bụi, tất cả rừng núi, bưng biền thuộc về chúng tôi. Ngay như cả địa hình giáp ranh như... Vậy là lộ. Nhưng anh thử nghĩ coi, nếu tôi phản bội thật thì lúc này tôi đâu có còn ngồi ở đây nữa. Và không một căn cứ nào có ngừoi bị đánh bom cả, đã minh chứng cho tôi...".

Sau đó chúng tôi có mời anh tham gia sinh hoạt Đảng, nhưng anh lắc đầu: "Không, mình không xứng đáng!". Tôi cho đó là thái độ hết sức đúng đắn về nhân cách đảng viên.

Nhưng việc thứ hai thì tôi lại rầu lòng. Thời gian sau này, ảnh gượng lại được và bắt đầu tham gia vào công tác chỉ đạo vượt ngục. Trước khi vượt, ảnh làm sao đó cùng với một cậu là sĩ quan đồ bản đã vẽ được toàn bộ sơ đồ nhà tù với mục đích nếu ra được sẽ có cơ sở báo cáo với trên để tạo thời cơ đánh chiếm và giải phóng toàn bộ nhà lao trở lại. Hành vi và động cơ đẹp thế, nhưng khi hầm hào đào xong, ảnh lại ngần ngại không muốn ra, khiến cho một cán bộ phải nặng lời thu đoạt lấy tấm sơ đồ.

Có lẽ chuyện về Ba Sinh chỉ có thế, tôi biết đến đâu nói đến đó, nói đại, coi chừng xúc phạm đến danh dự người ta. Ảnh hiện giờ về hưu, đang sống với vợ con ở bên kia cầu Sài Gòn, anh thử tìm đến đó chuyện trò thêm xem.

Nghe tới đó tôi mừng rơn trong bụng. Tốt quá, dù tôi không muốn tìm gặp Ba Sinh vì biết đâu sẽ khoét thêm vào nỗi nhức nhối của ông đã tạm lắng đi nhưng tôi vẫn phải đến vì ông là người chỉ đạo đào hầm, liên quan đến đào hầm - Mảng tư liệu cuối cùng tôi cần tiếp cận. Và còn đang là một ẩn số của thiên phóng sự này.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#7 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:35 AM

- Anh Năm! Có lẽ anh Năm mệt rồi - Tôi nói - Bây giờ anh Năm kể cho tôi nghe trường hợp anh viết bản hợp xướng "Cửu Long Giang" mà nhiều người nhắc đến và cũng là lý do chủ yếu tôi đến đây.

- Được rồi! - Nét mặt hơi ngây ngây của con người không còn có được một cái đầu bình thường hơi sáng lên - Tôi kể:

Sau hơn một năm quần lên quần xuống lúc căng lúc chùng cho nhão ra, chúng đưa tôi bằng trực thăng về Đặc ủy phủ Tổng thống ở số 1 Bạch Đằng Sài Gòn để chiêu hồi.

Chúng đưa Phạm Duy đến dụ khị: Thế là lại quất cho hắn một mẻ ra trò. Phạm Duy về rồi, biết không ăn thua, chúng đưa tôi sang phòng thẩm vấn. Tại đây tôi ghi thẳng vào phần nguyện vọng: "Mong muốn thực hiện một nước Việt Nam giàu mạnh thực sự, khi ấy tôi sẽ xin trở lại Hội nhạc sĩ, thành viên của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam".

Tức tối, chúng lại trả tôi về khu biệt giam lều bạt.

Chính nhờ có lần đi này, ngồi trên trực thăng nhìn dòng Cửu Long đò màu phù sa chảy dưới kia như bàn tay mẹ hiền giữ chặt đất quê hương lửa khói mà nảy sinh cảm hứng viết nhạc. Bắt đầu chỉ định viết ca khúc thôi nhưng lần gặp Phạm Duy về, máu kiêu tráng trong người nổi lên, tôi quyết định viết hẳn hợp xướng nhiều chương. Anh sẽ hỏi tôi ngồi ở xà lim viết bằng gì? Đúng! Con người ta ta ra tiềm ẩn những khả năng thích nghi đến kỳ lạ, thích nghi trong những hoàn cảnh tưởng không tài nào thích nghi được.

Ở xà lim Bạch Đằng, tôi viết bằng cách gạch các môtíp xuống đất, còn son phe (tức là nốt nhạc) không có đàn thì ghi nhận trong óc để tự nó vang lên. Ghi nhận miết rồi thành nhớ, lần sau nhắc lại vẫn đúng giai điệu.

Về đến Phú Quốc, thấy tôi có ý định ấy, anh em đi làm kiếm bao thuốc về cho thay giấy. Mực là mực con cá mực nặn ra xin của mấy anh làm bếp. Bút thì dễ rồi, tìm đâu chả ra một cái que.

Bản hợp xướng này tôi viết hết ba tháng, có lúc đã đỉnh bỏ dở vì đau đớn mệt mỏi quá. Nhưng cứ nhắm mắt lại là âm hưởng của dòng sông lại ào ạt vỗ trong đầu, có xua đi không được, phần nữa do anh em tha thiết động viên nên tôi cắn răng đi đến nốt nhạc cuối cùng. Lời ca đại khái thế này, lâu quá rồi tôi không còn nhớ nổi nữa: "... Mênh mông một dòng sông nước bạc anh hùng... thấp thoáng đàn cò trắng thẳng cánh..." Ôi! Quên hết rồi. Mai mốt kiếm lại được cái băng cassette, tôi sẽ gửi ra Hà Nội cho anh vậy.

Viết xong, tôi tập cho anh em bạn tù hát luôn. Quên chưa nói, trong trại giam sĩ quan này có mấy anh em văn công quân giải phóng Trung Bộ cũng bị bắt vào đây đợt Mậu Thân nên có nòng cốt để tập. Bắt đầu là hát rì rầm để đối phó, thuộc rồi thì hát to dần lên. Và vào dịp tết năm "bảy hai", 42 anh em trong dàn hợp xướng do tôi cầm càng đã tập hợp ra sân hát vang lên. Anh em ở khu khác, kể cả khu Tân sanh hoạt đã được bên này dùng dây thun bắn giấy ra báo trước nên đồng loạt đổ ra sân hưởng ứng làm khán giả.

Chúng tôi hát liền hai chục phút. Những bộ ngực lép kẹp tróc lở nâng lên hạ xuống nhìn cảm động lắm. Khán giả ở rải rác khắp nơi cũng hướng đến bằng những con mắt ốm đau bệnh tật. Cầm càng cho anh em mà nước mắt tôi trào ra. Tôi biết rằng, đêm ấy trong toàn bộ nhà lao không ít tù binh đã không cầm lòng được khi nghe bài ca của chính lòng mình vượt lên trên đau khổ, chết chóc bay lên...

Dàn đồng ca dứt lời thì cũng là lúc bọn quân cảnh được điều tới. Nhưng mọi việc đã xong rồi. Nhà lao lại trở về im ắng, nhưng âm hưởng "Cửu Long Giang" vẫn còn âm thầm vang ngân mãi trong lòng người tù như một sự khích lệ, lại như một lời nhắn nhủ.

Sau năm "bảy ba", năm tôi được trao trả, bản hợp xướng được hát trên Đài phát thanh Giải phóng, được Đài phát thanh Trung ương dựng hai chương và sau năm "bảy lăm", toàn bộ bản "Cửu Long Giang" được chơi trên sóng FM. Cho đến nay không còn ai nhắc nhở đến nó và cũng không ai chơi nó nữa. Thời buổi nhạc nhẹ, nhạc Pop, nhạc hải ngoại ủy mị tràn ngập, ai còn đi nghe hợp xướng! Đến tôi, tôi cũng không còn nhớ kia mà.

Buồn lắm! Càng buồn hơn khi mình trở thành phế nhân. Còn ăn, còn uống được nhưng đã liệt đi phân nửa thân người, cái tay đã run, cái đầu dù đã đi mổ ở nước ngoài nhưng không nhớ được gì, đọc tờ "Sài Gòn Giải Phóng" tối ngày không hết. Lắm lúc nhớ nghề phát khổ phát sở, tính ngồi vào bàn nhưng ngón tay không nâng nổi cây bút, lại thôi. Chính vì lẽ đó mà tôi bỏ lỡ dịp không ra cùng được anh em đào hầm lần ấy. Ra thế nào được khi hai đầu gối khớp sưng tấy, để anh em phải khiêng phải vác!

Hóa ra thằng trưởng nhóm Đinh Công Chất nói đúng: Nhà tù không giết nổi tôi nhưng đã làm tiêu tan sự nghiệp của tôi.

Chuyện trò đến đó thì chị Vân bưng cơm lên như là một cách thức nhắc nhở tôi hãy tạm thôi đi để cho chồng nghỉ. Bữa cơm dành cho người Hà Nội vào và những người từ Hà Nội tập kết về đậm đặc chất Kinh Bắc: canh riêu cua, rau muống sống chẻ nhỏ, cá kho khô, đĩa cà muối sổi chấm mắm tôm, đĩa trứng tráng mỏng tang vàng màu lá mướp héo... Anh ăn nhỏ nhẹ và không nói gì thêm nữa. Phải chăng ngay lúc này đây, người tù nhạc sĩ còn mang trên mình dấu vết của bao trận đòn thù năm xưa đang âm thầm nghĩ đến những bữa cơm chan máu trong căn lều bạt hôi hám ngày nào.

- Buồn cười lắm chú ạ! - Lần này lại chính Tường Vân nói với tôi - Ông này cái số làm sao mà bị đánh đến ngày cuối cùng trước khi trao trả. Cũng tại cực đoan quá cơ. Khi đưa ra sân bay về Lộc Ninh, nó đưa bằng xe zip là nó nể mình rồi, còn cái việc nó cắm cờ tam tài ở trước mũi xe nếu cảm thấy bị xúc phạm thì lựa lời mà nói, đằng này lại cứ khăng khăng: "Để tôi xuống đi bộ, nếu đi xe thì phải gỡ cờ hoặc cắm cả hai, cả cờ của mặt trận giải phóng nữa!". Thế là điên lên, nó lại lôi vào "xê" quân cảnh oánh cho ói cơm, ói ra máu. May mà có anh em tù khu sĩ quan làm ầm lên chứ không thì dám bỏ xác ở lại hòn đảo ấy lắm!

- Bà nói hay nhỉ - ông Phan Miên hơi chau màu - Bao nhiêu gian nan cũng là để ngày ra có thể ngẩng mặt mà nhìn anh em bà con mình. Ra dưới bóng cờ của nó khác gì một cách tuyên bố với thiên hạ đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ/

- Thì tôi cũng nói thế - chị Vân cười thật hiền.

- Tiện đây - Tôi hỏi - Anh có biết ông Ba Trân, sư trưởng sư 1 cũng bị giam trong đó không?

- Ờ! Nhiều người nói đến ông này, kẻ địch cũng nói nhưng sao tôi đi gần hết các khu giam mà không có gặp, lạ quá! Hay chúng giam ông tại một phòng giam riêng biệt ở đâu đó không biết nữa.

- Anh là một bí thư đảng ủy, rất may là tôi đi tìm một nhạc sĩ lại gặp luôn cả một ông bí thư đảng ủy, theo anh trong toàn bộ nhà lao có một đường dây Đảng lãnh đạo chung không? Ai cầm đầu? Liệu có phải ông Ba Trân, người có chức vụ cao nhất trong 40 ngàn người.

- Đã có người hỏi tôi câu hỏi đó nhưng tôi trả lời không có đâu, không thể có được. Từng khu có đảng ủy, từng trại có chi bộ đã là một sự kiện phi thường mà kẻ thù không thể lý giải nổi rồi. Điều này anh có thể tin ở tôi.

- Vâng, câu cuối cùng, anh Năm có sống với một ai tên là Quang, Phan Huy Quang, trung úy người Thái Bình, ở lực lượng trinh sát Miền không?

- Quang à? - Ông nhăn hết trán lại - Quang... Có, có một Quang kể chuyện Tam Quốc rất giỏi, ông có thể kể hết ngày này sang ngày khác không thiếu một chương. Ban đầu lính không cho anh em tù tập trung từ ba ngừoi trở lên, sau thấy anh em mê nghe Tam Quốc quá nên tặc lưỡi bỏ qua và chính họ cũng ngồi nghe luôn. Nghe há mồm. Nhưng Quang anh hỏi hồi ấy chừng bao tuổi?

- Khoảng hai tư hai nhăm gì đó.

- Thế thì không phải rồi. Ông này trên ba lăm, người Nghệ An kia.

- Vâng, không sao, cám ơn anh! Chào anh.

Tạm biệt anh Năm Miên, tôi chấp chới giữa âm thanh và cái nắng sáng vàng như mật của phố phường mà không hiểu mình đang đi ở đâu nữa. Chuyện của hôm qua và tiết tấu cuộc sống cuồng nộ hôm nay liệu có gắn gì vào nhau không?

Chỉ còn 15 ngày nữa, ngày 15 tháng Giêng là vấn đề vùng Vịnh sẽ được giải quyết. Nếu cả hai bên đều căng thì chiến tranh phải nổ ra, và như thế, ngay cả cái thành phố giả cả đang tăng vọt này liệu có còn giữ được sắc màu hoạt náo như hôm nay?
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#8 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:35 AM

Nhưng tôi không đủ thời gian để nghĩ ngợi lan man chuyện xa chuyện gần này lâu. Vừa về đến nhà khách của Bộ Quốc phòng, một bức điện đã nằm sẵn chờ tôi ở trên bàn: "Về ngay. Đã gặp được người đào hầm". Thế là bỏ cả cơm chiều, bỏ cả buổi gặp gỡ với hàng tá bạn bè, tôi khăn gói nhảy xích lô ra xa cảng miền Tây phốc về Hậu Giang.

Hóa ra người đào hầm không ở đâu xa lạ mà đang tồn tại ở ngay xứ Tây Đô nước trong gạo trắng này. Và cái sự thật đó là người đào hầm đang ngồi trước mặt tôi, một người đàn ông bình dị, trạc tuổi trung niên, tóc húi cao, cằm vuông chữ điền, ăn vận xuềnh xoàng, nói năng chân chất. Tìm kiếm lâu lắc quá mệt rồi, giờ đây tốt nhất là để cho nhân chứng của một thời tự nói lên câu chuyện của mình, ngõ hầu giúp các bạn biết thêm được một sự tích mang tính hạt nhân của khí phách lao tù.

Tôi tên là Nguyễn Đức Hòe, quê ở Lạng Giang - Hà Bắc, hiện nay là nhân viên bảo vệ của đại học Cần Thơ. Nghề bảo vệ đối với tôi còn nhiều bỡ ngỡ vì trước đó tôi là giáo viên dạy ở khoa trồng trọt, sau do hoàn cảnh kinh tế, tật bệnh nọ kia, tôi xin được chuyển xuống đây.

Tôi bị bắt trong trường hợp bị đạn vào đầu, định giằng lựu đạn tự sát nhưng anh em không cho. Tôi ngất đi... Khi tỉnh lại đã thấy mình nằm trong xà lim rồi!

Vâng! Tôi là người đào hầm, là người trực tiếp phụ trách đào hầm vượt ngục trong nhà lao Phú Quốc tại Khu 2, trại giam hạ sĩ quan miền Bắc.

Lần đào hầm của trại tôi được ghi nhận là lần vượt ngục thứ ba. Sau tôi, còn một lần nữa ở trại giam sĩ quan miền Nam và trước đó là hai lần tại khu giam sĩ quan miền Bắc. Tất cả là 4 lần. Đó là kể 4 lần trót lọt chứ trong toàn nhà tù, ở khu này khu khác đã xảy ra không ít những lần đào không thành công, phải trả một giá rất đắt.

Tất nhiên, trong hệ thống bố phòng chặt chẽ như thế không chỉ đào hầm mà ngay cả chiến thuật chui rào, cướp súng, leo thùng xe đều rất khó, khó khủng khiếp nhưng lần đào trước thường là thuận lợi hơn lần sau. Bở lẽ, cứ sau một vụ như thế, kẻ địch lại đúc kết kinh nghiệm và tăng cường phòng thủ gắt gao hơn. Ngược lại, ta cũng rút tỉa ra bài học của người đi trước mà lo đối phó. Tóm lại, cả hai bên đều không ngừng giữ miếng, lừa miếng, kẻ giữ, người ra.

Tôi lấy ví dụ, trước đó nền nhà tù đều nện bằng đất và đêm đêm chỉ điểm danh gọi một lần đầu hôm và cuối sáng. Sau này, do thất bại phòng thủ, nền nhà chúng đổ xi măng hết và đêm nào cũng điểm danh xoành xoạch cả chục lần, kết hợp với đèn đóm sáng trưng ngay bên trong trại. Tại sao lại đổ xi măng? Để ta khó đục được miệng hầm khi trong tay không có một tấc sắt (về chuyện này, chúng làm dữ lắm! Mỗi chiều đi làm về, chúng lục soát kỹ càng từng người, soi mói cả vào chỗ kín, để không cho tù mang được vào trại bất cứ mộ vật gì gọi là cưng cứng mộ tí, kể cả một đoạn que gỗ ngắn bằng gang tay). Còn điểm danh? Đây là một thủ đoạn khá lợi hại. Muốn đào được thì thường phải đào đêm, đang đào mặt trên, chúng xộc vào gọi tên từng người còn khả dĩ đối phó được, nhưng vô phúc đang chui như con chuột trong lòng đất, bất thần lên không kịp, coi như xong đời. Và đèn nữa. Suốt đêm sáng quắc như vậy, ai ngọ nguậy một chút chúng cũng không biết chứ đừng ai nhắc đến chứ đừng nói chuyện lục cục lào cào đào cào với bới. Nhưng không ăn thua... Anh em vẫn đào được, thời gian sau chúng dùng cả máy dò địa chấn mang từ Mỹ sang để tìm những dấu hiệu lạ trong lòng đất. Cái này kêu o o cả ngày lẫn đêm nghe vừa buồn cười vừa sốt ruột.

Trại tôi quyết định hành động đúng trong khoảng thời gian cao điểm của sự canh phòng này.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#9 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:35 AM

Bắt đầu tôi gặp bí thư chi bộ đề đạt quyết tâm. Đồng chí này nhất trí ngay. Sau đó bí thư chi bộ báo cáo thẳng lên bí thư đảng ủy. Nhất trí tiếp. Sao lại ngăn cản? Ra được người nào hay người đó, miễn là dám ra, nó hoàn toàn phù hợp với chủ trương chung và nguyện vọng của tất cả mọi người. Bí thư đảng ủy trao đổi với ông trại trưởng để lo tìm cách đối phó và trợ lực. Tại sao lại qua nhiều bước rắc rối thế? Chuyện vượt ngục phải tuyệt đối bí mật kia mà. Vâng! Đó là những kiểu vượt ngục khác, kiểu vượt ngục này nó dềnh dàng bày ra đầy trước mắt toàn trại, che giấu ai được. Mà đã công khai bày ra thì phải công khai báo cáo để nhờ tổ chức trấn an và thanh lọc nội bộ để không có một ai phản trắc cả. Chưa đào hay đang đào mà có một kẻ ngấm ngầm khai báo thì cái giá phải trả như thế nào chắc anh quá biết rồi. Cũng rất may, thời gian đó trại giam khá sách sẽ. Có một tên chỉ điểm thì đã bị anh em phát hiện và nhân một lần đi rừng lấy củi đã dùng nứa trừng trị rồi đổ cho tai nạn lao động vào tháng trước rồi.

Lúc ấy đang là mùa khô. Đáng lẽ chúng tôi sẽ nán chờ đến mùa mưa mới bắt đầu vì mưa xuống, mọi động tác đổ đất, hốt đất đều hết sức thuận lợi. Đất đào lên chỉ việc đổ xuống rãnh chạy quanh trại là mưa trôi đi hết, gọn hơ, không một dấu vết. Nhưng mùa mưa cũng là mùa chúng canh phòng ráo riết. Tệ hại hơn, biết là mùa ta hay đào hầm, chúng xáo trộn tùm lum. Thành thử cấp ủy chỉ đạo phải đào xong trước khi chúng xáo trộn và đào ngay lúc chúng ít đề phòng nhất mặc dù mùa khô sẽ khiến cho việc đào phức tạp lên gấp hàng chục lần.

Để chuẩn bị "dọn bãi" cho công việc, chúng tôi đề nghị ông trại trưởng thông báo cho bọn giám thị biết trong phòng đã xuất hiện dịch ho lao. Để xác thực, một số anh em nằm phía ngoài, gần cửa, đêm đêm phải cố rặn ra những cơn ho xé cổ. Ho vậy làm gì? Tôi sẽ kể sau.

Thứ hai, đây là việc quan trọng nhất, chúng tôi thành lập một đội 15 người gồm toàn những người trẻ khỏe nhất để sẵn sàng lao động nặng, rất nặng so với sức người bình thường chứ đừng nói sức tù kiệt quệ. Đó cũng coi như đội cảm tử vì đang hành động nếu bị lộ, người tổ trưởng sẽ can đảm đứng ra nhận tội tất cả về mình để cứu sống toàn trại. Anh em cử tôi. Tôi nhận lời mặc dù trong lòng đầy lo lắng và không phải không có lúc rùng mình. Tôi phân 15 người ra làm 3 kíp, mỗi kíp 5 người trong đó có 3 người đào chính tạm coi như thợ cả, như kiến trức sư là tôi, anh ngọc nhà báo và anh Linh.

Thứ ba là phương tiện dụng cụ. Nói nghe có vẻ to tát nhưng toàn bộ dụng cụ chỉ là cái quai cà mèn được cưa ra. Cưa bằng gì? Nói nghe như đùa nhưng mà là thật. Đi làm tạp dịch bẻ lén được một đoạn kẽm gai chừng gang tay, lén lút đưa vào. Có đoạn thép rồi lại lo dùng gạch đánh bẹp, càng bẹp càng tốt. Thế là thành cưa. Đúng hơn là thành dao, một con dao không chuôi không lưỡi đuồn đuột. Muốn thành cưa phải dùng cạnh quai cà mèn cứa thành những mắt nhỏ. Vậy là quai cà mèn tạo nên giũa, giũa sau khi đưa vào bếp tôi, lại cắt đứt quai cà mèn. Nội cái cứa đứt được một quai cũng phải mất cả ngày trong khi đó cứa được càng nhiều càng tốt. Rất may kẻ địch không mấy khi để ý đến cái thứ quai cóc cáy han gỉ này. Nếu chúng tinh ý nhận ra sao độ này cà mèn cho tù ăn cứ trụi lủi nhiều thế thì gay go to. Có quai rồi, động tác nhỏ hơn là phải làm sao uốn khum khum được thành muỗng. Một loại muỗng đầu bằng đít, đít bằng đầu trong rất ngộ. Muỗng đấy là cái xẻng đào hầm, phương tiện độc nhất của chúng tôi. Những cái xẻng bằng hai ngón tay để moi ra hàng chục mét khối đất, tạo ra cả một địa đạo dài dằng dặc trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất thì anh biết nó công phu như thế nào. Nói đùa, lắm lúc ngồi buồn lại lẩn thẩn nghĩ, trong cái viện bảo tàng cách mạng đến là lắm xe to pháo lớn nhưng tại sao không có cái xẻng xinh xinh như đồ chơi trẻ con này nhỉ? Nghĩ thêm: Sau này nhà nước một lúc nào chợt nhớ đến Phú Quốc, nhớ đến anh em tù binh cứ chín người được trở về lại có một người nằm xuống mà đắp một cái tượng đài kỷ niệm thì chỉ cần đắp một cái xẻng này phóng thật to lên là nói đủ tất cả.

Ngoài quai cà mèn ra, chúng tôi tìm mọi dịp để tha lôi về những cái can to nhỏ, sứt sẹo giấu kín xuống gầm sạp để có lúc dùng đến.

Việc chuẩn bị tạm xong, chọn ngày tốt, giờ tốt, không có cúng có vái gì, chỉ cầu mong cho ông bà phù hộ, chúng tôi bắt đầu hành động.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#10 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:35 AM

Gọi là "hành động" nghe có vẻ ghê chứ việc làm ban đầu như cái trò đùa. Trước hết, cử một người chuyên trách mở cửa hầm. Sau khi thống nhất chọn điểm mở miệng là ở dưới gầm sạp nằm, người này cứ tỉ mẩn dùng muỗng cà mèn cạo nền xi măng ở chính chỗ đó ra. Cạo từ từ, cạo nhỏ thôi, chừng bằng cái mặt ghế là cùng, cốt sao cho khi chui xuống chỉ cần lọt khít thân người, còn hai tay đã giơ lên đầu để thu nhỏ tiết diện rồi. Nền xi măng chúng tôi đã cẩn thận đổ dày tới 10 phân, cái việc cạo này không thể ngày một ngày hai mà xong, chỉ có thể kiên trì bóc đi từng lớp mỏng, bóc đến đâu, cho xi măng vụn vào túi áo đến đó, lựa lúc đi cầu mà lộn trái ra hất đi - Xin nói thêm việc này: Lúc chúng tôi đào hầm là thời điểm đấu tranh khá thắng lợi, khu trại chúng tôi được chúng cải thiện quần áo và sạp nằm.

Cùng lúc ấy chúng tôi phải triển khai hai việc.

Một, nhờ những người khéo tay nhất, mà trong tù thì thiếu gì những người khéo tay do tập hợp cả những ngành nghề của cả nước vào, kiếm gỗ vụn đóng một cái nắp hầm để nếu đang đào, chúng có vào kiểm tra cũng vẫn chỉ thấy một nền xi măng phẳng lì. Tất nhiên cái nắp phải thật khít khao so với miệng hầm và phía trên cũng trám xi măng đàng hoàng.

Hai, lợi dụng buổi chiều được ra sân ngồi, một số anh em tranh thủ vừa đánh cờ vừa khoét xuống đất, trong cỏ trong rãnh những cái lỗ bằng khoảng ống lon một lít để dành ém đất sau này. Một lần đang khoét vậy, thằng giám thị đi qua đá đá vào miệng lỗ hỏi: "Cái gì đây? Định đào hầm hả?". Một anh nhanh trí trả lời: "Người chứ có phải chuột đâu mà tính đào hầm bằng cái lỗ này, thầy hai! Buồn tay thôi!". Nó bỏ đi. Nó bỏ đi thì dựa vào cái thế công khai này, anh em khoét nữa, khoét thật nhiều.

Sau hai tuần nạo vét, lớp đất hiện ra. Đất sét pha cát thôi chứ nếu đất đá sỏi thì Phú Quốc sẽ không có sự tích đào hầm ngày hôm nay. Đào gì nói với cái thứ dụng cụ đó. Đất hiện ra rồi, công việc bỗng trở thành hết sức khẩn trương, tranh thủ từng giây từng phút bởi vì, nói theo danh từ quân sự là bộc phá đã nổ rồi, chỉ còn cách nhào vô mà làm tới thôi.

Từ khoảnh đất bằng cái miệng ghế đó, bọn tôi bắt đầu khoét sâu xuống. Độ sâu phải đạt ít nhất một mét mới chuyền đang được. Đất mềm, đào không khó. Cái khó là động tác đổ đất, ém đất. Và có lẽ người ta nói nhiều đến kỳ công đào hầm này là cũng nói đến cái đó. Đất mềm, dù đào bằng muỗng hay thìa, cũng chỉ ba ngày là xong. Nhưng do động tác ém đất nên phải kéo ra chục ngày.

Ém đất có năm cách đã được chúng tôi suy nghĩ, bàn bạc kỹ và có cả rút kinh nghiệm những vụ đào hầm của khu giam bạn.

Cách thứ nhất là cách thông thường. Mỗi người bỏ vào túi quần, túi áo hoặc túi nilon, giấy xi măng một ít rồi khi ra ngoài rải đi.

Cách thứ hai, nếu không đi làm, mỗi người nắm chim chim một chút bằng bao diêm rồi ra sân làm bộ búng búng nghịch chơi, nghịch cho hết, hôm sau lại mang một nắm ra nghịch nữa. Tại sao lại búng và tại sao lại phải cầu kỳ rải tận ngoài rừng? Trong sân toàn đất cũ cả, lớ ngớ đổ đất mới lên thì thằng địch nào cù lần nhất cũng đoán ra. Trước đó đã có người bàn, hay là kiến nghị nó cho tù vỡ ít miếng đất trồng rau ở ngoài sân để cải thiện bữa ăn, thực chất là xới đất mới lên nhưng thằng giám thị gạt luôn. Nó rắp tâm muốn bần cùng hóa mình thì đời nào nó cho mình được cải thiện.

Cách thứ ba là cho vào thùng rác rồi phủ rác lên, thậm chí còn cho cả vào thùng phân nhưng cách này không bền và chậm lắm.

Cách thứ tư khá hữu hiệu là lén mang đất ra đổ vào những cái lỗ mới đào. Cái này hơi lằng nhằng, tôi phải nói kỹ. Những cái lỗ này khoét xong nhưng đâu có được để nguyên như thế mà đổ. Khoét xong phải lấp lại kẻo khắp nơi lỗ chỗ như dấu chân voi lại "Lạy ông tôi ở bụi này". Nhưng có một cái lạ mà không hiểu do ai nghĩ ra, tôi độ chừng đó là sáng kiến của một chiến sĩ công binh nào đó, lượng đất khoét lên khi lấp lại bao giờ cũng hụt một chút. Chúng tôi ép đất vào cái "chút" đó. Một cái "chút" chả được bao nhiêu, nhiều cái "chút" lại thành kha khá. Buồn cười! Đất ở thể đặc, lấp xong nó lại co lại hơn. Nguyên tắc vật lý ngược này có khi là ông trời bày đặt ra để giúp tù cũng nên.

Cách thứ năm là ép đất ngay trong ruột hầm cũng theo nguyên tắc ngược này. Tức là dùng cách: "Lấy mỡ nó rán nó". Đào được muỗng đất nào, người sau lấy tay bóp nát miết vào vách hầm. Số đất moi ra và số đất miết vào cũng hụt đi một chút. Nhưng kiểu này rị mọ, không được nhiều.

Nói như vậy để anh thấy đào hầm giữa mùa mưa và mùa khô nó khác nhau trời vực như thế nào.

Chương trình đặt ra như thế, phương án đặt ra như thế tưởng cứ như thế mà làm, nhưng trong quá trình tiến hành nó lại nảy sinh ra bao nhiêu điều phức tạp. Cái nắp hầm chẳng hạn. Khi đào thì mở nắp ra cho thông khí không lại chết ngạt, hết ca đào lại đậy lại ngụy trang nhưng ngày nào cũng lấy ra hạ xuống hoài, nắp bắt buộc phải có cái quai bằng dây theo kiểu nắp hầm bí mật ở vùng địch hậu. Đã cột dây là phải cột cứng luôn. Như thế nó xộc vào nhìn thấy thì sao? Chả lẽ lại làm ngơ cho nó cứ việc móc dây vào tay mà lôi nắp hầm, lôi cả công sức và tính mạng mình lên hay sao. Dùng que cây cũng không được. Cậy miết, khe nắp toét ra chả lấy cái gì mà hàn được. Cuối cùng có một người nghĩ ra một kế rất hay. Đó là, dùng bốn cái lò xo ruột Bic nhặt được ngoài rào. Gắn 4 cái lò xo vào phía dưới nắp sao cho để ấn một cái nó ăn chặt vào miệng hầm, ấn cái nữa nó khẽ kênh lên. Thế là luồn tay vào nhấc gọn, ngon lành, cũng như cái kiểu mìn zip của nó ấy mà. Đạp phải, nó bật lên ngang bàn chân mới nổ.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#11 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:36 AM

Có một thước hầm chiều sâu rồi, chúng tôi chuyển sang chiều ngang. Đây là giai đoạn trọng yếu nhất. Ngay đào về hướng nào cũng phải cân nhắc kỹ. Tất nhiên phải ra hướng ngoài hàng rào rồi, nhưng coi chừng lại chọn phải khoảng cách xa quá. Suy đi tính lại, chúng tôi chọn hướng đào thông qua nhà bộ chỉ huy của nó. Vừa ngắn hơn vừa bất ngờ. Nếu chúng dùng máy dò địa chấn thì chắc sẽ dò chỗ khác chứ ai lại dò xung quanh nhà bộ chỉ huy, và thằng tù nào lại dám đào ngang mặt nó thế này. Yếu tố bất ngờ trên cũng được chúng tối sử dụng vào quyết định điểm mở miệng hầm. Miệng hầm mở khuất quá, chúng dễ nghi, mở lộ quá, chúng cũng dễ nghi. Tốt nhất là mở ngay chân tường đối diện nhà giám thị. Ai dại gì đi đào khoét ngay dưới chân đối phương bao giờ? Chắc cái đầu của chúng nghĩ thế.

Hướng thì hướng vậy nhưng đào có trúng hướng không lại là một chuyện khác. Hồi ở Điện Biên Phủ, có trong tay tất cả các khí tài hiện đại mà ta còn mở chệch cứ điểm A1 mấy thước nữa là chúng tôi bây giờ. Thôi, nghĩ thì cứ nghĩ cho thấu hết mọi nhẽ, còn việc làm cứ phải làm, làm tới đâu tính tới đó.

Bắt đầu phải dùng đến tổng lực rồi! Hiệp đồng kíp đào 5 người liên tiếp thay nhau. Năm người này đảm trách một đêm một ngày lại đến năm người khác, năm người khác nữa. Mỗi kíp phải đào được một mét mới được bàn giao cho kíp khác. Một mét đất chiều ngang nghe đơn giản nhưng xoay xở khó lắm. Địa thế chật chội, nằm mà đào chứ đâu được quỳ được ngồi mà xắn đất. Quỳ hay ngồi dễ đào hơn rất nhiều, nhưng đường hầm sẽ rộng quá, đất lấy lên quá trời, biết đổ đi đâu? Phương châm là đào càng hẹp càng tốt, miễn là vừa một thân người trườn đi được.

Mới nhủi sâu vào chừng được ba mét, sức lực của cả 15 người đã có vẻ cạn rồi. Cạn do đói khát, do bệnh tật nhưng cạn chủ yếu do ngộp thở. Gọi là 5 người nhưng mỗi người chỉ loay hoay được chừng nửa tiếng là lại phải trồi lên ngay thở dốc thở dác, mặt mày tái xám như đang cơn đau tim để người khác xuống thay. Mới chỉ có thế mà hai bàn tay ghì cán muỗng đã trầy trật hết da, nắm vào thấy rát bỏng. Khi đó nhìn lòng đất mênh mông đen ngòm mà nản quá, đã có người cáo bệnh định thôi nhưng nhờ anh em động viên nên lại cắn răng vào mà làm.

Nhưng lúc như thế mới thấy thấm cái nghĩa tình đồng đội cưu mang nhau. Trong khi đội cảm tử mở trận đánh nhọc nhằn trong lòng đất thì những bạn tù già, yếu không hề ở không. Họ cắt cử nhau cảnh giới vòng ngoài, phát hiện thấy tiếng chân địch từ xa để báo động vào trong. Họ rủ nhau đánh cờ, kể chuyện Tây Du, Thủy Hử để che đi cái miệng hầm đang có chúng tôi ở trong. Họ còn tình nguyện cắt bớt khẩu phần ăn vốn đã quá ít ỏi của mình cho đồng đội, và không ít người thấy chúng tôi vất vả quá đã cố ý xin được thay nhưng nhìn thân hình tiều tụy, xanh bủn của họ, chúng tôi chỉ lắc đầu.

Tất nhiên trong số đó không phải không có những người cầu an bình chân như vại. Họ không tỏ ý phản đối nhưng cũng không tỏ ra tán thành, thế nào cũng được nhưng không được làm ảnh hưởng đến họ. Họ thường tách riêng ra một nhóm mũ ni che tai, ngoài giờ đi làm, giờ ăn uống, họ co chân nằm lì, gọi không thưa, hỏi không nói. Đây là số đối tượng cần giám sát của đảng ủy. Biết đâu, từ cái dáng nằm u uất kia đến sự phản bội cách nhau có bao xa.

Vượt lên tất cả, đường hầm vẫn từng ngày nhích vô phía hàng rào, nhích từng phân một nhưng không hề dừng lại.

Càng vào trong, tốc độ càng chậm. Một trong những nguyên cớ để chậm đó là động tác lấy đất ra. Thông thường chúng tôi lấy đất bằng cách kéo dây, một thứ dây bện bằng quần áo tù xé nhỏ. người nào đến lần đào thì kéo theo mình chiếc can hỏng đã buộc một đầu dây vào đó, đầu kia nằm ở cửa hầm. Đất đào được lèn vào can rồi giật giật, người ở ngoài biết, vọi kéo ra. Kéo ra rồi mới phân nhỏ mang đi đổ? Chậm quá! Nhiều khi đất đào được nhiều rồi nhưng can vẫn chưa giải tỏa xong khiến người bên trong phải nằm chờ, trong khi sức lực không cho phép được nằm lâu trong đó. Cuối cùng chúng tôi bèn nghĩ ra một cách là khoan đào vào vội. Trước hết tập trung đào ngay một cái hố to ở ngay cửa ngách đã, tức là ở dưới chân cái độ sâu một mét. Cái hố này có tác dụng chứa đất tại chỗ, được can nào gọn ngay can đó mà đất từ hố mang đi đổ cũng dễ dàng hơn. Kế sách này đẩy tốc độ đào nhanh trông thấy nhưng cũng chỉ được ít ngày vì hố đã đầy rồi thì buộc phải trở lại cách thức ban đầu. Tuy vậy cũng không sao! Trong cuộc giành giật này, nhanh được ngày nào sống được ngày đó.

Nhưng gay go nhất vẫn là cách thức đối phó với địch.

Một lần đang đào thì chúng ập đến điểm danh. Vào sâu quá tôi lên không kịp, anh em buộc phải đậy nắp lại. Thế là thiếu một người. Nhưng rất may một ai đó đã nhanh tay tạo một cái hình nhân đang nằm trùm đầu trùm đuôi bằng những bao bì đựng cát khâu dính lại ở chính chỗ tôi vẫn nằm. Điểm danh xong một loạt, thằng quân cảnh bấm đèn pin vào cái hình nhân hỏi: "Thằng nào đây? Dậy!". Đưng ngay ở miệng hầm tim tôi thót lại, phen này chắc chết! Nó sẽ lấy đầu gậy lật chăn ra và... thế là xong. Tôi đã quay cuồng nghĩ đến chuyện mình sẽ từ từ đội nắp trèo lên và sau đó... Chợt có tiếng trả lời: "Nó đang bệnh. Hình như bị sốt thương hàn hay sao đó, ỉa tong tỏng suốt!".

Mới nghe đến hai chữ "thương hàn" thằng quân cảnh đã bật lùi trở lại. "Đù mẹ! Hàn hàn con mẹ gì! Ăn bậy ăn bạ lắm vào rồi còn bày đặt chuyện thương hàn. Đi!". Nó nhăn mũi quay sang điểm danh ở dãy nằm khác. Thoát! Tôi toát mồ hôi đầm đìa, chân tay nhủn ra muốn khuỵu xuống. Đã hết đâu! Không hiểu nó điểm danh kiểu gì mà tới cả mười lăm phút. Mười lăm phút không có không khí, giống như người bị bóp cổ, tôi trợn mắt ngáp ngáp mấy cái rồi nhủn ra thật...

Khi nó đi rồi, anh em lôi lên được thì tôi đã đang trong trạng thái ngất xỉu. Lơ mơ tỉnh dậy, nghĩ mình sắp chết, tôi thều thào trăng trối trở lại: "Tôi là Hòe, quê quán tại... Nếu tôi chết, hãy nhắn về cho vợ tôi là...". Nói xong tôi tỉnh luôn, lồm cồm bò trở dậy. Nhác thấy những khuôn mặt cúi xuống cười ra nước mắt.

Một lần khác, do đã rút được kinh nghiệm nên anh em không chơi trò hình nhân quá ư mạo hiểm ấy nữa. Chúng tôi sử dụng ngón tráo người. Khi chúng sắp gọi đến tên người còn ở dưới đất thì, nhờ có móc ráp trước, một đồng chí ở trại bên cạnh nhanh chóng chui rào qua tuồn vào thế chỗ và gân cổ "có" rõ to. Bọn giám thị không nói nhưng mấy tên quân cảnh có biết ai vào ai đâu, miễn là người nào "có" người đó và đủ số lượng.

Nhưng cái chúng tôi ngại nhất là máy do địa chấn thì cũng lại xảy ra. Một buổi trưa, anh em đang nằm nghỉ thì một tốp lính mở tung cánh cửa định ào ào vào với cái máy nhỏ xíu hình con rùa màu xanh trên tay. Chúng tôi đã nghe đến cái máy quỷ quái này nên ngán nó lắm. Nó có thể phát tín hiệu khi thấy một cái gì đó khác lạ ở độ sâu hơn năm mét chứ cái nắp hầm mỏng dẹp nằm sờ sờ ra đó thì ăn nhằm chi. Nhưng tổ chức Đảng đã lường trước nên vừa thấy bóng bọn công binh an ninh, hàng chục người nằm ở bệ xi măng gần cửa bỗng nổi cơn ho, vừa ho vừa rên, vừa khạc nhổ om sòm, nhổ luôn cả cục đờm xanh lè vào chỗ nắp hầm nữa. Đám an ninh lùi lại hỏi tên giám thị: "Sao vậy?" Tên giám thị lúng túng trả lời: "Ho lao! Đang có dịch ho lao" "Thôi, sang trại khác. Khi nào mấy ông trị xong cái dịch quỷ quái này, bọn tôi lại đến!" và nó bỏ đi. Tên giám thị nhìn theo càu nhàu mấy câu rồi cũng bỏ đi nốt, thực ra đây là chuyện "gậy ông đập lưng ông". Nếu hệ thống trạm xá của chúng đàng hoàng một chút và nếu tụi giám thị không cố tình để chết anh em thì ba cái ho này làm gì chúng không phát hiện ra thực hư.

Đại khái trong quá trình đào hầm, chúng tôi đã trải qua nhưng lần căng thẳng như thế mà không thể kể hết ra ở đây.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#12 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:36 AM

Sang tháng thứ ba, đường hầm đã dài được chừng 60 mét, tức là phân nửa. Trong 60 mét đó có biết bao nan giải đã xảy ra. Nan giải nhất vẫn là chuyện thiếu không khí. Càng vào trong càng thiếu. Có lần một kíp 5 người đều ngất xỉu, hè nhau vào lôi mãi mới ra. Cứ đà này thì chỉ vào sâu ít mét nữa là không tài nào chịu nổi. Chúng tôi quyết định trổ lỗ thông hơi cho từng đoạn. Nhưng trổ vào đâu lại là điều không đơn giản. Trổ lung tung ư? Lỗ thông hơi thòi lên trên đúng khoảng trống hay giữa nền nhà của lính thì tính sao? Thế là phải cử người lên mặt đất đo đạc cẩn thận, đo bằng mắt, đo bằng bước chân, đo bằng cả quãng cách giữa các hàng rào để lỗ thông hơi phải trổ trúng được rãnh thoát nước có cỏ mọc um tùm hay trổ trúng lòng hàng rào mà chúng không bao giờ để mắt, lai vãng tới. Trổ lần đầu, trượt lại lấp đi. Lần hai cũng thế. Đến lần ba, sau khi khớp cự ly trên dưới thật chuẩn xác mới trúng vào rãnh nước. Chà! Cái que sắt dùng để cời than liều mạng ăn trộm được của nhà bếp vừa bực lên một cái, không khí đã hun hút tràn xuống mát lạnh đến nổi cả da gà. Tất nhiên do sướng quá mà cảm thấy vậy thôi.

Có lỗ thông hơi rồi, giờ phải lo bảo quan được cái lỗ đó chứ không chỉ cần một hòn sỏi, một trận mưa ập xuống là lấp hết, lại bí như không, chúng tôi nghĩ ra một cách đi kiếm những ống thuốc pelixilin đã tiêm vất ở bãi rác mang về tiện đầu tiện đít rồi nối vào nhau thành một đường ống thủy tinh luồn vào cái lỗ đó, luôn hơi nhích đầu lên một chút. Lỗ thông hơi có thêm tác dụng tuyệt với làm ông nghe kiểu tìm địa đỉnh nữa. Đang đào, qua ống nghe bước chân, giọng nói chúng đến gần là tạm dừng lại. Rất tiện lợi.

Cứ thế, khoảng năm mươi mét chúng tôi lại tạo một đường ống như vậy cho đến điểm chót cùng. Công việc nhờ có nó mà thấy khỏe hẳn ra, có cảm giác đào cả đời cũng được.

Xong việc ngộp thở lại xảy ra việc lạc hướng. Những mét đầu, hướng đi còn thẳng, những mét sau đèn đóm không có, toàn đào mò như lạc vào thiên la địa võng không biết hầm chạy thao hướng nào, cong hay thẳng nữa. Có đoạn phát hiện ra cong quá, thế là đành phải uốn lại, mất công kinh khủng. Khi đào phải tiết kiệm từng xẻng đất, bỗng nhiên cong một cái, phải khoét thêm hàng chục mét khối đất nữa, đổ ém ra sao? Cũng may là còn có cái khoảng trống cong cong đó để đoạn thẳng uốn lại. có chỗ mà đắp đất vào. Về sau nghĩ ra cách dùng cây que dài một mét đặt trên ba điểm để tạo nên một đường thẳng mà đào. Cái này anh chưa thật hiểu phải không? Thế này nhé! Một cây que đặt trên ba cục gạch con làm chuẩn. Cứ đào được một đoạn vì chục phân lại chuyển cục gạch ở dưới cùng lên đầu rồi nhấc cây que lên theo, làm sao nó vẫn nằm đè lên cả ba cục là được. Nguyên tắc "qua hai điểm ta có thể kẻ được một đường thẳng" thôi, ở đây không phải kẻ mà là đào nên thêm ra một điểm. Còn một cách để định hướng, đó là căn cứ ngay vào sự thẳng hàng của các lỗ thông hơi. Quan sát ở trên, thấy một cái ống thủy tinh nào nhô lên hơi lệch đi một chút là phải thông báo cho ở dưới rõ ngay. Tất nhiên những ống thuốc tiêm nào nhô lên ở xa quá hay gần địch quá không đi qua đi lại để xác định được thì đành thôi.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#13 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:36 AM

Cứ như vậy qua 6 tháng ròng rã, chúng tôi đã nạo khoét được hơn 120 thước đường hầm. Kiểm tra lại chúng tôi đã tiêu tốn hết ba chục cái quai cà mèn, hai chục cái can hỏng và thay đôi cũng hai mươi lần dây kéo đất. Còn ba chục bàn tay chúng tôi hết sưng lại rộp nhưng rồi cũng nổi chai, mọc sẹo không còn thấy đau nữa. Đêm nằm đụng phải tay mình nghe là lạ như bàn tay người khác. 120 thước đường hầm cũng là ít nhất 60 mét khối đất, 60 mét khối này, ngoài rải ra rừng, ra bụi, nó còn cần bao nhiêu lỗ đất mới ém hết? Vậy mà vẫn giữ được bí mật! Cứ nghĩ tới là rùng mình!

Thực ra 6 tháng cho một trăm hai mươi thước đất cũng gọi là nhanh. Tôi biết có khu giam, anh em phải trần lực tới 8 tháng, 12 tháng để đào được một đường hầm còn ngắn hơn thế này.

Công việc đang đến đoạn chót thì trại giam được bổ sung thêm 12 người tù. Trong số đó có một anh cao to dềnh dàng, da trắng bóc trông như Mỹ. Anh này thấy có chuyện đào hầm là xông vào ngay đòi được tham gia, chúng tôi không chấp nhận là vì: Một, thân thể quá cỡ thế kia, xoay xở sao được mà đào. Hai là, đáng khả nghi lắm! Ở tù cực khổ vậy, da dẻ vẫn hồng hào thế kia thì chỉ có thể là gián điệp trà trộn vào.

Đang còn bán tín bán nghi thì đồng chí bí thư đảng ủy rỉ tai tôi: "Tiếp tục đi! 12 người này hoàn toàn có thể tin được. Họ vừa giết một tên chỉ điểm ở nhà giam A7 nên bị nhốt chuồng cọp 10 ngày rồi điều qua đây. Cái con người to lớn kia khá lắm đó. Đến đâu quậy đấy, địch rất gờm và do hành động quá quyết liệt khiến chúng có cớ đàn áp anh em nên cũng được tổ chức phê phán nhiều lần.".

Sau này, khi ra cứ rồi, tôi mới hay đó là anh Bảy Hòa, Trương Văn Hòa, anh hùng các lực lượng vũ trang, giữ chức tiểu đoàn trưởng nhưng khi bị bắt, anh chỉ khai là trung sĩ, trung sĩ quân bưu.

Đang đào tiếp, lưỡi muỗng bỗng kêu tách một cái rồi quằn lại. Trong bóng tối đưa tay sờ thì thấy cả một cái cọc sắt to tướng cắm trước mặt. Cọc rào gai rồi. Tức là ta đã đào quá chếch lên trên. Cũng may, không có cái cọc này "cảnh cáo" thì cha con dám đào thủng luôn lên trên mặt đất quá! Lại phải mất năm ngày nắn sâu xuống để vượt qua cọc. Mọi sự suôn sẻ không sao, không may gặp một sự cố như cái sự cố cọc sắt coóc nhe này, trong lòng hụt hẫng hẳn, lại phải gồng mình lên chịu trận tiếp. 6 tháng trời, 180 ngày, 120 thước đất, đã có biết bao nhiêu sự cố như vậy xảy ra? Bây giờ ngồi đây nghĩ lại thì chịu, không trả lời được.

Xin lỗi! Chắc anh đã đọc Tây Du Ký rồi! Anh còn nhớ cái đoạn thầy trò Đường Tăng trải qua 80 cửa ai đã tưởng là xong nhưng Phật Tổ vẫn còn bày ra cái hạn thứ 81 nữa mới hết thử thách không? Bọn tôi cũng vậy. Đo đạc, cân nhắc cẩn trọng, chúng tôi rạng rỡ thông báo với anh em chỉ còn một mét nữa là ra đến ngoài vòng rào, anh em hãy chuẩn bị đi. Cả phòng giam đêm ấy như có hội, người nào cũng thao thức chờ cái giờ lên đường trở về với tự do, với sự sống bên ngoài. Bởi vì theo quy định, khi nào đội cảm tử sắp trổ cửa ra phải thông báo trước để anh em chuẩn bị chứ không trổ rồi mới thông báo e rằng không kịp, địch sẽ phát hiện cửa ra.

Nhưng đào mãi vẫn không thấy gì, vẫn chỉ thấy toàn đất là đất. Sao vậy? Tôi lẩm nhẩm tính toán trở lại mới ngớ ra là còn 3 mét chứ không phải một mét như đã tưởng. Cả một ngày đào hầm quần quật mới được có 5 mét, bây giờ là gần nửa đêm rồi mà còn những ba mét nữa thì tính sao đây?

Trong khi đó ở trên mặt đất, trong phòng giam, do chờ đợi quá lâu nên bắt đầu có sự chộn rộn qua lại, xầm xì hỏi han rất nguy hiểm nếu chúng xộc vào bất thần. Các đồng chí lãnh đạo phải đứng ra trấn an: "Không có gì. Vướng đá sỏi thôi!". Câu nói thông minh ấy đã làm mọi người yên lặng trở lại.

Như cuộc chạy vào nước rút, 3 mét đất còn lại, chỉ mất hai giờ đồng hồ, chúng tôi đã vượt qua ngon lành. Cửa hầm đã trổ ra trúng một bụi cây nằm dưới giao thông hào ngoại vi hàng rào.

Chúng tôi khẩn trương tổ chức bò ra. Tất nhiên là có đủ 15 người trong đội cảm tử. Sau đó có thêm 27 người xin ra theo nữa là 42 người. Tôi mời đồng chí bí thư đảng ủy cùng ra nhưng đồng chí ấy bùi ngùi lắc đầu: "Còn hơn sáu chục anh em nữa! Cứ ra đi, tìm cách liên lạc với đất liền và báo cáo tất cả cho Trung ương hay. Mình không thể bỏ mặc họ. Chúc may mắn! Cửa hầm mình sẽ cho ngụy trang kỹ lại". Tôi chỉ còn biết nghẹn ngào ôm chặt lấy ông rồi theo mọi người xuống hầm.

Trên đường ra có một chuyện tức cười. Hầm chỉ đào cho khổ người trung bình chui lọt chứ ai tính đào cho cả khổ người dềnh dàng của anh Bảy Hòa. Vì thế, ra được nửa đường thì anh Bảy bị kẹt cứng lại, ra tiếp không xong mà trở lại cũng không được. Cuối cùng để kịp thời gian, chúng tôi cứ người đẩy người lôi anh ấy đi. Đúng là đôi vai anh cào đất rèn rẹt như một chiếc máy ủi. Lên được đến mặt đất chúng tôi mới kinh ngạc thấy anh ngất xỉu đi từ hồi nào, hông đùi và vai rách nát, máu chảy ướt cả một vạt cỏ.

Thế là thoát. Cứ nơi nào có pháo nổ là có quân ta, cứ nơi nào có bom đạn là đi tới, với khẩu lệnh hành quân ấy, mười ngày sau, chúng tôi đã tìm gặp được căn cứ huyện đội Phú Quốc nhưng... điểm chỉ còn 25 người. 17 đồng chí đã ngã xuống trên dọc đường đi tìm. Điều đó lý giải tại sao con đường hầm đã mở ra thông thoáng đến thế mà khi ra, cũng chỉ có hơn một phần ba số tù tình nguyện.

Tôi chia sẻ với anh Nguyễn Đức Hòe suy nghĩ ấy, cũng như bằng thiên phóng sự này, tôi đã chia sẻ biết bao nhiêu điều với các anh Ba Toản, Hai Hội, Sơn, Hồng, Hai Tỳ, Hai Nam, Chất, Ba Lửa, Năm Miên... chia sẻ luôn cả cái tin đài BBC đã đưa sau đó có một ngày "... Lại hơn 40 tù binh Cộng sản tại nhà lao Phú Quốc vượt thoát bằng đường hầm như kiểu địa đạo Điện Biên Phủ, bất chấp tất cả những phương tiện canh phòng hiện đại do người Mỹ cung cấp...".

Ngày đó trớ trêu thay, lại đúng vào ngày Thiệu trúng cử Tổng thống.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#14 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:36 AM

Tuy nhiên còn có một câu chuyện nhỏ liên quan đến huyền thoại đào hầm mà anh Hòe chưa kể cho tôi nghe và tôi không tiện hỏi.

Đó là chuyện cả một tổ đào hầm của trại giam sĩ quan đã bị địch lấp cửa chôn sống. Chỉ khác, con đường hầm tang tóc đó không đào về phía ngoại vi hàng rào mà thọc thẳng vào kho vũ khí ở bên kia sân banh, kế dãy nhà hai tầng lắp ráp bằng vật liệu Mỹ của bộ chỉ huy quân cảnh.

Tổ chức Đảng ở đó đã quyết định cướp kho vũ khí gồm hàng ngàn súng đạng các loại để trang bị cho tù binh đồng loạt nổi dậy tự giải phóng toàn bộ nhà tù nếu thời cơ cho phép. Nhưng lòng hầm mới nhích về phía kho chưa được một nửa thì kẻ địch phát hiện ra. Phát hiện bằng máy dò hình con rùa? Bằng sự phản bội của chỉ điểm? Hay phát hiện bằng chính sự bất đồng trong nội bộ trại tù? Rất có thể lắm chứ. Chủ trương vũ trang trong hoàn cảnh o ép dở sống dở chết như thế, có phải chi bộ nào, đảng ủy nào cũng đồng lòng nhất trí cả đâu. Bởi lẽ có đảng ủy tích cực, có đảng ủy cầu an, lại có cả đảng ủy chủ trương tuân thủ kẻ thù kia mà. Song, tất cả những giả thuyết đó đều chưa có cơ sở khẳng định, hãy để cho lịch sử phán xét, lịch sử bao giờ cũng công bằng, miễn là lịch sử đừng quên họ.

Thời gian này tình hình các nhà tù trên toàn bộ lãnh thổ đã mở ra thoáng hơn. Do ở Côn Đảo. Anh em tù trong chuồng cọp bị chết nhiều quá, nên công luận quốc tế dữ dội lên án. Lên án nơi đó, tác động đến nơi này. Bọn chỉ huy nhà lao Phú Quốc buộc phải tạm thời hủy bỏ chế độ phạt tù trong chuồng cọp hay chuồng chó. Nhưng hủy bỏ cái này lại sử dụng cái khác độc ác hơn. Chôn sống tù là một ví dụ.

Trước khi chôn sống, tên chỉ hủy ban điều hành cho tập hợp toàn bộ tù binh lại: "Mấy thằng không muốn sống yên ổn trên mặt đất mà lại thích chui nhủi trong lòng đất thì ta cho vĩnh viễn chui nhủi luôn!". Nói xong, nó hô lính lấp kín cửa hầm lại. Những người tù hôm đó, tôi được nghe kể lại rằng, nhỡn tiền chứng kiến cái chết tức tưởi của đồng đội mà không làm gì được, đành cúi đầu làm một phút mặc niệm âm thầm trước nấm mồ chôn chung. Nấm mồ đó bây giờ ở đâu, nằm trong vị trí nào trong cả cái nhà lao rộng năm cây số vuông mà giờ đây chỉ còn là một thung lũng cỏ cây hoang mạc trải dài đến ngút ngàn trên địa danh An Thới? Chắc sẽ không có ai trả lời được câu hỏi này!.

Chưa hết! Ngày hôm sau chúng lôi người chủ xướng lên nhà bộ chỉ huy. Anh tên là gì? Quê quán ở đâu? Mỗi người nói một phách, không thể đưa ra được một cái tên chuẩn xác nên tôi buộc phải gọi ANH như một danh tù chung. Chúng đánh phủ đầu ANH ngay từ ngoài cửa đánh vào. Chưa đứng yên chỗ, một tên đã dùng kìm cắt rào cộng lực bẻ ngang hai ngón chân cái ANH sang hai bên nghe cái rắc! "Định trốn à? Định đào hầm nổi loạn à? - Nó nói - Bẻ tạm hai ngón chân cho mày thành người Giao Chỉ luôn, mặc sức mà trốn!".

ANH im lặng. Biết rằng sẽ chết nên ANH chỉ im lặng. Chúng không chịu nổi cái im lặng rùng rợn của người chiến sĩ đó nên nhanh chóng muốn anh biến đi khỏi mặt đất này. Hai thanh gỗ nặng nề kẹp cứng lấy phía trước phía sau lồng ngực lép kẹp... Hai cái đinh vít đã được bôi dầu... Hai cái cờ lê thi nhau vặn. Hai thanh gỗ vô tri chuyển động sát gần nhau, chuyển nữa. Tiếng xương rạn vỡ xào xạo... lục cục... Máu ở miệng, ở mũi người tù trào ra ướt đẫm mảng xương ngực đang tiếp tục vỡ, gãy... Chưa hả, chúng vung chiếc búa năm cân lên đóng lút cái đinh 10 phân vào hai đầu gối người tù, hai cái đầu gối không còn khả năng giữ thăng bằng nổi cái thân hình nặng chưa tới 40 ki lô gam ấy nữa... ANH gục xuống, chỉ có đôi mắt u buồn nhìn ngước lên...

Những người bạn tù của ANH, trước khi đưa anh ra nghĩa địa đã lau hết máu trên thân thể, đã cởi áo quần của mình mặc cho anh, đã kín đáo mang vào cho anh một đôi dép mềm và dưới đế dép có ghi cả tên tuổi, quê quán, ngày hy sinh... ANH an nghỉ đời đời ở nghĩa trang mới. Khu nghĩa trang cũ, do anh em mình đấu tranh găng quá, chúng đã ủi đi để mở hai con đường chặn ngang từ Đông sang Tây nhằm cắt nhỏ các khu vực trại giam để dễ bề khủng bố.

Con đường chặn ngang đó đến nay vẫn còn với cỏ dại mọc kín hai bên, nhưng số hài cốt nằm dưới đó liệu có còn không hay đã bị xe ủi ủi đi đâu rồi? Năm ngoái, với trách nhiệm và tình thương dồn tụ tận đáy lòng, những người mj, người chị, người em của Hội phụ nữ Phú Quốc đã mở chiến dịch đi lấy lên được 800 hài cốt của những người con từ khắp đất nước ngã xuống ở đây, mang về an táng, truy điệu tại nghĩa trang liệt sĩ nằm gần sân bay, trên một điểm cao bốn mùa lộng tràn gió nắng. Nhưng vẫn chỉ là tám trăm!

Tám trăm của khu nghĩa địa mới. Còn bao nhiêu ở khu nghĩa địa cũ nữa? Tám trăm hay bốn ngàn? Thông số đau lòng không muốn tin là thật này, ai sẽ trả lời? Chao ôi! Lịch sử của một nhà tù, lịch sử của một hòn đảo lại lắm cái cần phải trả lời thế ư? Vậy lịch sử của cả một đất nước, của cả một cuộc chiến tranh thì sao?

Bạn đọc thân mến!

Tôi đang nói đến người liệt sĩ trầm lặng anh hùng. Bài viết này sẽ rất khiếm khuyết nếu tôi không xin phép các bạn đẩy thêm số phận người tù này một tấc nữa về phía sau cuộc đời. Cuộc đời riêng tư.

ANH có một người vợ ở quê nhà Thủ Đức. Sau năm "bảy lăm", một người bạn tù của ANH sống sót trở về được, không rõ vì điều gì xui khiến hay chỉ là một sự hiểu lầm sai lạc đã thông báo ANH là kẻ chiêu hồi trong tù, bị anh em đánh chết... Một năm sau người vợ này chấp nhận ăn ở với người bạn tù đó như vợ chồng. Theo yêu cầu của người chồng mới, chị phải đổi họ hai đứa con riêng của mình sang họ người bạn tù để tụi trẻ nó sau này lớn lên khỏi tủi hổ. Chị nghe lời.

Bỗng một ngày có một người tù cao cấp đến chơi nhà. Anh kể lại toàn bộ cái chết oanh liệt của người chồng cũ mà anh được nghe người tù khác cho biết, cho người vợ nghe. Khóc lóc hết ba ngày. Ngày thứ tư chị đuổi con người phản bạn lừa thầy kia ra khỏi cửa rồi cùng người tù cao cấp khăn gói mở cuộc hành trình đi ra đảo. Hòn đảo vừa giải phóng, vẫn còn nóng bỏng hơi thở của chiến tranh, vẫn còn nguyên cái xác khổng lồ của con quái vật ăn thịt người. Sau ba ngày, bằng vào sự giúp đỡ của bà con Phú Quốc, của một người tù đã trực tiếp mang ANH đi chôn ngày trước mà vô tình chị gặp được, họ đã tìm ra hài cốt của ANH, cái hài cốt không còn nguyên xương ngực, nhưng đầu gối lại còn nguyên hai cái đinh han gỉ cắm lút vào.

Chuyến tàu đò chen chúc đêm đó, kẻ cắp không biết đã lấy đi cái túi xách đựng hài cốt của chồng. Trở về Thủ Đức, người vợ bỗng phát điên. Bệnh điên kéo dài suốt một năm. Sau này, bạn bè ANH chủ động đặt lại họ cho hai đứa con theo đúng họ của người cha liệt sĩ, chị mới dần dần trở lại trạng thái thần kinh bình thường.

Đây là câu chuyện nghe tưởng chừng như tiểu thuyết lâm li đang bán đầy đường đầy phố nhưng nó lại hoàn toàn có thật. Bởi lẽ người tù cao cấp đưa chị ra đảo đó chính là anh... Ba Trân, sư trưởng sư 1, Nguyễn Văn Trân, nhân vật mang ẩn số mà tôi cứ mất công đi dò hỏi mãi. Chính anh Ba đã kể cho tôi nghe câu chuyện này.

Tôi gặp anh trong bệnh viện "Vì Dân", tầng 5, phòng 512 vào những giờ phút cuối cùng không còn hy vọng gì được gặp nữa để chuẩn bị trở ra Hà Nội. Đã độ tuổi 65 mà nhìn anh còn trẻ quá! Ông sư trưởng đã có thời bị tù đày đẹp như một tài tử xi nê phương Tây đã về già mà tươi tắn sáng láng như một ông chủ tư sản vừa trúng một cổ phiếu hay áp phe lớn.

- Mình vào trị bệnh sỏi thận, ông ạ! - Giọng Huế anh nói nghe thật ngọt - Buồn cười! Thế quái nào mà thằng con mình nó chở mình bằng xe máy, cái cục sỏi trong thận lại tự văng ra. Nhưng vẫn phải vào đây nằm cho chắc ăn.

- Anh Ba! - Tôi đi thẳng vào chuyện - Tôi đến đây để nghe người tù binh cao cấp nhất nhà lao Phú Quốc kể chuyện, nếu vị tù binh ấy không sợ bị vi phạm chế độ nhà thương.

Anh ớ ra một chút rồi bất thần cười vang, cười rất lâu. Tôi chau mày, bệnh tật gì mà lại có cái kiểu cười ầm ào lính tráng như thế! Vỗ vai tôi một cái rõ nặng, anh nói:

- Vậy thì thất vọng rồi ông ơi! Ông nhà văn gõ nhầm cửa rồi! Tôi đâu có ở nhà tù Phú Quốc ngày nào.

- Sao kỳ vậy? Người ta ai cũng...

- Mà chả phải một mình ông nhầm đâu. Ấy, cứ ngồi chơi đã! Ông mới thất vọng chứ chưa đến nỗi tuyệt vọng kia mà. Tôi không ở Phú Quốc, nhưng số phận, nói đúng hơn là số tù của mình gắn bó với Phú Quốc rất ác.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#15 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:37 AM

Thế này nhé! Gần kết thúc Mậu Thân thì mình bị chúng tóm được tại kinh Vĩnh Tế. Bọn này đi có một trung đội bảo vệ và một cậu y sĩ, một cậu liên lạc. Đụng phục kích Mỹ, quần nhau hết hai giờ thì toàn bộ trung đội hy sinh, câu y sĩ hy sinh, chỉ còn mình với tay liên lạc cũng bị thương cùng mình. Biết thế nào cũng không thoát được, mình dặn cậu ta: "Đánh tới viên đạn chót nghe em! Giả dụ có bị bắt thì nhớ đừng nói cấp bậc, chức vụ gì của mình cả". Mới nói được thế, bọn chúng đã ùa tới từ bốn phía. Cây súng ngắn hết đạn. Theo một dự tính đã có sẵn, tôi vơ ngay lấy cái túi của đồng chí y sĩ đeo vô người.

Hai anh em bị giải về phòng xét hỏi vùng 4 chiến thuật đóng tại Cần Thơ. Một viên trung úy hất hàm:

- Mày tên gì?

- Tôi tên Hinh.

- Giữ chức vụ gì?

- Thấy lang.

- Trong quân đội cộng sản sao lại có thầy lang?

- Có chứ ạ! Vì trong rừng thuốc men thiếu thốn, quân đội phải biên chế thầy lang để khai thác nguồn thuốc nam của rừng.

Hắn hỏi thêm cậu liên lạc, cậu này cũng xác nhận, vậy là tin, mà tin cũng phải thôi vì hình dong mặt mũi của tôi cha mẹ sinh ra được cái cũng tạm coi là cao ráo trắng trẻo, lại cũng kha khá tuổi nữa, bốn chục ngoài rồi còn gì, đóng giả ông lang được quá đi chứ.

- Mày có biết Ba Trân không? - Nó hỏi thêm.

- Ba Trân nào kia ạ?

- Ba Trân sư trưởng của tụi mày đó, chúng tao nhận được tin hắn cùng đi trong toán ba chục thằng qua kinh Vĩnh Tế, cùng bọn mày kia mà.

Mẹt khỉ! Một thằng oắt con đáng tuổi con mình mà cứ "mày mày, tao tao" nghe lộn ruột lắm nhưng thấy nó cứ hỏi xoắn vào tên "Ba Trân" lại khoái thầm trong bụng, giống một trò chơi ú tim nên cố dằn lòng mà ngọt nhạt trả lời:

- Trời đất ơi! Làm gì có. Tôi chỉ là phận lang băm cấp đại đội, tôi làm sao có thể biết được cái ông sư trưởng ở cao chót vót ấy. Đến cái tên Ba Trân cũng chưa biết nữa là.

- Còn thằng này? - Nó quay sang cậu liên lạc - Biết không? Nếu biết, nói ra, dù hắn còn sống hay đã chết, tao cũng thả ngay. Lời hứa danh dự.

Cậu này lé mắt nhìn tôi nhanh một cái rồi lắc đầu. Tội nghiệp! Sau này bị đày đi Phú Quốc, chịu đòn không thấu phải chấp nhận chiêu hồi nhưng điều bí mật về thủ trưởng của mình, cậu ấy vẫn ghìm chặt trong bụng. Sau giải phóng, tôi có ý đi tìm nhưng không thấy tăm tích cậu ta ở đâu, có khi chết rồi!

- Kể tiếp đi anh Ba! - Tôi bị cuốn theo câu chuyện đầy chất kịch tính này nhưng vẫn đủ tỉnh táo để nhắc khéo - Thế cái gì khiến tên tuổi anh dính dáng đến Phú Quốc?

- Từ từ! Tôi đang bị sỏi thận mà ông quay tôi dữ thế? Hả! Tóm lại chúng nó dốc tâm tìm cái tên "Ba Trân". Về nhà tù Hố Nai, tôi bị truy gắt đế hơn.

Chúng không mất công hỏi khơi khơi nữa mà đi ngay vào ngón nhà nghề:

- ANh nói anh là thầy lang kiêm y tá. Vậy y tá thì phải biết tiêm. Anh tiêm thử tôi coi! Tiêm vào thằng tù nay! - Hắn hất mặt về một người gầy gò, rách rưới đang ngồi thù lù ở góc phòng.

Ối giời! Cái gì chứ cái đó thì dễ ợt. Tuy là chỉ huy nhưng tính tôi lại hay tò mò thích tìm biết mọi thứ, nhiều khi lại tự tay làm thử chơi. Bảo rằng mổ ruột hay cưa cắt chân tay, tôi còn chịu chứ ba cái trò này, kể luôn cả việc đỡ đẻ cắt nhau, tôi cũng làm bay; thế là, bằng những động tác thành thạo, hơi cố tình khoa trương một chút, tôi thực hiện cú tiêm vô đùi người tù một cách ngọt xớt.

- Đọc tên tất cả những loại thuốc này và nói công dụng từng thứ!

Chúng kêu một thằng thầy thuốc lên tiếp tục sát hạch tôi. Cũng ngon trớt. Tôi nói liền một hơi, tiếng tây tiếng ta đọc vanh vách khiến chúng phải đưa mắt nhìn nhau... Còn nữa. Tên thầy thuốc trực tiếp hỏi:

- Trong rừng có những thứ cây, cỏ gì có thể làm vị thuốc nam và tác dụng của từng vị.

Vẫn ngọt! Ông già tôi là ông trùm thuốc nam gia truyền mà. Tôi lim dim mắt tuôn ra một hơi nữa đến chóng mặt đối phương.

- Được rồi! Hắn cắt lời - ở rừng có dùng cao hổ cốt trị bệnh cho thương binh không?

- Có chớ! - Tôi lỡ trớn nói luôn.

- Vậy cách nấu cao thế nào?

Tới đây tôi hơi sững lại. Thấy mẹ rồi! Kiến thức này còn lơ mơ lắm, nói bậy là lộ tẩy hết. Để hoãn binh, tôi kêu nói nhiều nhạt miệng quá! Hắn đưa tôi một điếu thuốc. Tôi cầm, cầm đại đi chứ! Từ nãy đến giờ, mình đã bán bao nhiêu là chất xám, cả tây y lẫn đông y, mình có quyền ngửa cổ rít vài hơi chứ. Nói vậy chứ đầu óc nghĩ lưng lắm! Sao hè? Cái con khỉ thì mình đã trực mắt nhìn thấy mấy tay quân y trạm xá nấu rồi, còn con hổ... Gay đây! Chợt lóe một suy nghĩ: khỉ hay hổ cũng như nhau tuốt! Cùng loại bốn chân chạy trong rừng tuốt. Mẹ! Có khác gì nhau, chỉ có con hổ xương to, loài ăn thịt thì phải nấu kỹ hơn mà thôi! Kệ! Được ăn cả ngã về không!

Thế là rít xong hơi thuốc cuối cùng, mình mới làm ra bộ mắt hết sức tiên sinh đạo mạo nói một hơi, lửa củi phải thế này, xương phải giữ nguyên cả lóng thế kia, riêng cái sọ phải thế kia nữa... Lé mắt nhìn, thấy chúng nó tròn mắt lên nghe có vẻ say sưa lắm. Tưởng xong đã mừng! Một tên ở ngoài đi vào, bật lên một cái giọng Huế đặc sệt, mặt lạnh lạnh:

- Ba Trân là dân Thừa Thiên, năm nay trạc tuổi ông, giọng ông cũng Thừa Thiên. Hai người có bà con họ hàng gì không? Hay là... chính ông? Hả?

Thằng này đểu, hỏi một câu quá xỏ lá nhưng phải công nhận việc hành chánh của chúng giỏi thật, cái chi cũng cho được vô hồ sơ hết.

- Trung úy hỏi chi lạ! Nếu tôi là bà con của ông, một sư đoàn trưởng thì tôi đâu có phải làm lang băm y tá thế ni? Tôi phải là bác sĩ chớ! Cộng sản họ thiên vị riêng tư lắm mà. (Nói bậy vậy một chút để gỡ thế, đừng truy chụp hỉ?).

Không moi được gì, chúng thả mình về xà lim. Ra đến cửa... Đây là chi tiết quan trọng, một thằng còn giữ mình lại giữa luồng sáng, xâm xoi nhìn vô mặt rồi lại cúi xuống nhìn một cái gì đó ở lòng bàn tay. Mình nhìn theo và bỗng... giật thót người. Đây là tấm hình Ba Trân! Sao chúng lại có thể có được tấm hình này, mình không hiểu. Hình chụp ở quê hay chụp hồi ra ngoải tập kết? Hay có thằng phản bội nào đã lén chụp trộm mới đây ở trong rừng? Hay chúng họa lại? Truyền thần lại? Nhưng mà kệ? Nhưng mà kệ má nó! Mình không lo. Dù hình nào đi nữa thì mình cũng đã lường trước hết cả rồi. Ngay từ trại giam vùng bốn, mình đã hàng ngày lén lấy xi đánh giầy, hộp xi đổi bằng chiếc đồng hồ cho bọn lính gác, bôi mặt cho khác đi. Mặt trắng thì thoa đen, mũi cao thì bôi vẹo, cằm dài thì thoa ngắn... tóc tai cũng cào bới lòa xòa che đi vầng trán bắt đầu hói... Bữa ni cũng vậy nên làm sao chúng nhận ra.

Săm soi một lúc không được gì hơn, một cái bá súng thúc mạnh vô lưng mình đau điếng, đẩy đi...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#16 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:37 AM

- Vậy cái hình này cũng chấm hết ở đó - Tôi nói - có dính dáng gì đến Phú Quốc đâu?

- Lại vội rồi! Muốn có một phải biết hai. Muốn hiểu Phú Quốc phải hiểu từ Hố Nai. Hai thằng này như hai anh em song sanh. Cái này tạo truyền thống cái kia và cái kia phục hồi truyền thống trở lại cho cái này. Nói cách khác. Nhà tù Hố Nai là cái ga chờ, cái cửa khẩu của nhà lao Phú Quốc. Có người tù nào chở thẳng từ mặt trận về hòn đảo ấy đâu. Cũng như không có truyền thống vượt Côn Đảo thì chắc gì đã có hành vi vượt tù Phú Quốc.

- Nhất trí! - Tôi nói ngay để mong hướng anh trở lại luồng.

- Nhất trí hỉ - Anh Ba Trân cười - Nhất trí thì ta sang chuyện Phú Quốc. Nó là thế này. Không tìm được mình nhưng chúng vẫn mang máng đã tóm được mình - Tóm sống được một sư trưởng chủ lực là công bự lắm chứ - Tụi an ninh nhào xuống nhà lao Phú Quốc với tấm hình của mình trong tay. Nhưng chúng không trực tiếp ra mặt mà sử dụng một tên chiêu hồi nào đó đã có lần biết mặt mình. Trong khi đó mình vẫn đang ở Hố Nai. Thằng chiêu hồi này lang thang khắp các phòng giam. Gần 500 phòng hỉ? Đến đâu cũng cóm róm vô tận mặt từng người nhưng chẳng được tích sự gì. Hết Phú Quốc, nó trở ra Hố Nai. Và như vậy thì mình có thể nguy. Nhưng thằng này đã tới số của nó rồi. Một tù binh ở trại giam sĩ quan miền Nam thấy ghét quá, một phần cũng muốn bảo vệ đồng đội, đã chồm lên giết chết nó, cướp lại tấm hình, nhai nuốt vô bụng...

Từ đó số phận mình coi như được bảo hành, còn người tù tốt bụng kia sau đó có sao không? Hiện nay ở nơi nào? Còn hay mất? Bà xã mình bảo mình đi tìm để cám ơn người ta nhưng hai ba phen lặn lội mà đâu có thấy.

- Tức là tóm lại, anh chưa hề đặt chân tới Phú Quốc mà chỉ có tấm hình đi thay thôi - Tôi nói - Vậy mà tôi cứ đinh ninh ông sư trưởng 325 nổi tiếng sẽ là người chỉ huy, người lãnh đạo Đảng cao nhất 40 ngàn tù binh kia đấy.

- Anh em mình tốt lắm! - Giọng anh bỗng trở lên thâm trầm, khuôn mặt đang tươi tắn chợt già xọp hẳn đi. Tốt ngoài sức tưởng tượng kia. Đảng ư? Đúng? Nhà tù nào cũng có Đảng. Đảng góp phần quan trọng trong công việc giữ vững khí tiết nhưng quan trọng hơn là từng anh em biết lặng lẽ tự vượt mình, vượt lên tất cả để khẳng định nhân cách. Nếu có viết, ông hãy cố gắng viết về từng con người cá thể như thế. Tôi nhớ... Cái này nói thêm thôi. Một lần, vào khoảng ba giờ sáng, một ông già cơ sở bị bắt lẻn sang phòng nói với mình: "Tôi biết chú to, chỉ chỉ là tù mót (tức khai lậu) chú giữ khí tiết tốt, tôi mừng, mọi người đều mừng. Chú sa ngã, chú chớ trách tôi". Nói rồi lẻn trở lại luôn.

Một lần khác, chuyện này xảy ra ở Phú Quốc, một chiến sĩ liên lạc nhỏ tuổi làm nhiệm vụ đưa thơ trong tù bị đánh liền 6 tháng nhưng vẫn không chịu khai ra ai là người cầm đầu cuộc tuyệt thực trong trại. Bỗng một ngày, chú kêu khai. Bọn địch mừng quá, tập họp ráo trọi tù lại. Thằng thiếu tá hỏi:

"Mày khai phải không?".

Chú trả lời: "Khai! Nhớ nhà quá nên khai"

"Tốt! Khai đi, tao cho về"

"Vâng, thưa thiếu tá, tôi là liên lạc cho..."

"Cho ai?"

"Tôi liên lạc bằng cách chui rào!"

"Được rồi! Chui rào nhưng chui rào để gặp ai?"

"Để gặp Cụ Hồ!"

Thằng này dựng ngược mắt: "Đù mẹ! Mày định đùa với Chính phủ, đùa với tao hả?".

Cậu liên lạc lại khóc nấc: "Nhớ nhà quá! Biết Cụ Hồ ở Hà Nội, tính chui rào đi tìm".

Thằng chỉ huy được một phen mất mặt, còn anh em tù được một mẻ cười bể bụng.

Chuyện này, cũng xảy ra ở nhà tù Phú Quốc, một bác hàng thịt không hiểu sao trong một trận càn cũng bị bắt. Không phải chúng tưởng bác là cách mạng mà chính bác ngay từ đầu đã dương dương xưng mình là người cách mạng. Khi vào tù, thằng trưởng ban điều hành phẩy tay: "Ông lớn tuổi; tôi tha cho về. Lần sau nhớ là đừng có nhận bậy nữa!". Chẳng dè bác này lại nói: "Không về. Tôi là Đảng viên Cộng sản đàng hoàng." "Đơn vị nào" Ai kết nạp?" - Nó hỏi. "Mới mà, tôi làm sao nhớ nổi" - Bác trả lời tỉnh queo. Tên trưởng ban nổi quạu: "Nói! Ai kết nạp?". Lúc ấy ông già bán thịt mới thủng thẳng: "Đại tá chỉ huy cảnh sát. Chính ổng kết nạp. Bởi vì ổng vô có đánh tôi đau quá!".

Đó! Anh em bà con mình như vậy đó. Có lẽ chính vì cái lý do đó mà khi anh Mười Khang (tức anh Hoàng Văn Thái) nhắn vào sẽ dùng bộc phá phá nhà tù để cứu mình ra, mình đã lắc đầu vì sợ không an toàn cho đồng đội. Chỉ tiếc, cái lò lửa nhà tù đáng lẽ sản sinh ra những người con ưu tú của Đảng, những anh hùng của nhân dân thì lại cho ra những nỗi buồn day dứt không lý giải nổi. Sao kỳ vậy? Dù anh là anh hùng hay anh là kẻ hèn hạ, một khi đã vào tù thì đều được nhìn nhận bằng một con mắt như nhau tất. Tất nhiên trong đó có bao nhiêu sâu mọt nhưng con sâu đâu có phải khi nào cũng làm rầu nồi canh. Bao giờ chúng ta mới tháo bỏ được cái nhìn hẹp hòi thiên kiến này hả ông nhà văn thân yêu? Tháo bỏ trong mọi chuyện chớ không phải chỉ trong nhìn nhận phẩm cách con người. Mình muốn nói câu cuối cùng với danh dự người lính, danh dự đảng viên: Suốt trong ba chục năm chiến đấu dằng dặc, thành địch đã làm khổ ta quá nhiều rồi, ta lại còn nỡ làm khổ ta thêm nữa ư?

Tôi không nói nhưng tôi hiểu anh. Rất hiểu, anh Ba Trân ạ! Nghe nói vừa rồi anh mới được phong hàm tướng và sắp tới đâu sẽ đi chuyên gia ở một nước bạn xa xôi. Theo một lô gích thông thường của điều lệnh, từ trước Mậu Thân anh đã là sư trưởng một sư đoàn mạnh, nếu không rơi vào tù đày, dù trong tù đày anh chói sáng như một anh hùng đi nữa thì giờ đây anh sẽ mang cấp hàm và trọng trách gì? Chắc không phải chỉ là cái non khiêm nhường này.

Nhưng có sao đâu phải không anh Ba Trân! Nhìn nụ cười của anh, cách nói về đồng đội của anh, cách lý giải mọi điều trong cuộc sống của anh, tôi hiểu anh đã biết cách vượt lên trên mọi suy nghĩ so sánh để hôm nay gặp lại, tôi vẫn nhận ra anh là một người lính, một đảng viên đích thực. Điều đó mới thật là tồn tại vĩnh cửu phải không anh?

Tạm biệt anh, người tù cao cấp nhất không nằm trong đội hình Phú Quốc nhưng tên tuổi, hành vi của anh lại lưu truyền ảnh hưởng rất nhiều đến nhà lao hòn đảo hình lưỡi mác này.

Tạm biết anh mà trong lòng tôi cũng ngổn ngang nhiều điều lắm, bởi lẽ tôi cũng là người lính, cũng khoác bồng hành quân suốt một thời trai trẻ như anh, bởi lẽ ngày hôm nay cuộc đời nghiệt ngã làm sao, còn nghiệt ngã nhiều hơn những ngày một bồng một súng nhẹ tênh đi giữa cánh rừng và cũng bởi lẽ, người chồng của bạn vợ tôi cho đến nay cũng vẫn chưa tìm ra tăm tích gì.

Trong khi đó, chắc anh cũng cùng chung một mối lo lắng như tôi, phía trời xa, nửa nhân loại, đúng, nửa nhân loại theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đang sắp sửa lao vào một cuộc chém giét tàn canh. Đằng sau những cuộc chém giết ấy là gì? Chắc anh và cả tôi nữa đều đã thấm thía đến đắng cay quá rồi!
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#17 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:38 AM

Thay Đoạn Kết


Phú Quốc là đất giàu! Phú Quốc cũng là đất dữ. Bao đời nay hòn đảo hình lưỡi mác vung giữa biển khơi này đã chặt nát bao ý đồ xâm lăng tàn bạo của các loại kẻ thù.

Phú Quốc gần mà xa, xa mà gần. Phú Quốc cô đơn nhưng không bao giờ cô độc. Phú Quốc, vị trí chiến lược quân sự lợi hại, Phú Quốc lại cũng là địa thế chiến lược kinh tế tràn đầy hy vọng cho công cuộc kiện tạo giang sơn mai này.

Phú Quốc mang trong lòng nó tất cả dáng hình của tổ quốc. Nhưng dáng hình nào cũng vẫn đậm đà của bản sắc Phú Quốc làm sao! Phú Quốc mang trong lòng nó cư dân của khắp mọi nơi dồn về. Nhưng cư dân nào cũng thấm nhuần phong độ người Phú Quốc biết bao! Người Phú Quốc kiên cường trước kẻ thù, thuần phác với bạn bè, chân tình với khách bốn phương và khoáng đạt trong cách sống, cách làm.

Phú Quốc mang trong lòng nó một nhà tù. Một nhà tù khổng lồ cũng mang tên Phú Quốc.

Đã có nơi nào số phận người tù lại gắn bó khăng khít với số phận của người dân đảo như ở đây? Đã có nơi nào sự nghiệp đấu tranh của nhà tù thở cùng nhịp thở với cuộc kháng chiến trên đảo như nơi này?

Hai mươi năm tồn tại nhà tù. Hai mươi năm tồn tại tội ác. Hai mươi năm thấm máu thương đau. Hai mươi năm quẫy cựa không ngừng khát vọng sổ lồng tung cánh. Hai trăm ba mươi chín người tù vượt ngục trong bốn mươi hai lượt người ra. 16 vụ vượt rào, 14 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảnh, 4 lần đào hầm... Những thông số khiêm nhường nhưng không hề ít ỏi đó nói lên điều gì? Sẽ không nói lên điều gì nếu như cuộc kháng chiến bên ngoài không tồn tại. Và sẽ nói lên tất cả một khi cái quật cường bên ngoài đã vẫy gọi, nâng đỡ cái quật cường bên trong. Tự nghĩ, nếu cái buổi hôm đó mà không có một đầu đạn mang nhãn hiệu CKC, nhãn hiệu của ta lọt vào trại giam thì những con số trên kia liệu có được hình thành không? Những con số hình thành bằng máu. Máu bên trong và máu bên ngoài. Truyền thống bên ngoài và khí phách bên trong thầm lặng hà hơi tiếp sức nhau.

Và nếu như bên ngoài là nơi tụ hội của dân cư mọi miền thì bên trong cũng là điểm tập trung tù binh của đất đai cả nước. Nếu bên ngoài mang trọn dánh hình sông núi quốc gia thì bên trong, bốn mươi ngàn tù binh cũng tâm lý suy nghĩ mỗi người một vẻ. Tại sao lại có cái trong và cái ngoài trùng hợp nhau đến thế? Phải chăng cuộc đời gom tụ mọi sắc màu Việt Nam về đây để thử thách một phen. Phú Quốc, gương mặt của Việt Nam! Gương mặt sáng hay mờ? Trách nhiệm lịch sử ấy thiêng liêng và cũng nặng nề biết bao.

Hơn 400 người ra, nhưng chỉ 239 người đến đích. Thế mới biết, nằm trong lòng nhau, thở hơi thở của nhau, cách nhau không đầy gang tấc mà đến được với nhau gian khó làm sao!

Tổ anh Hai Hội, anh Tư Phước đi mất 11 ngày. Tổ Ba Toản 6 ngày, tổ của Hồng lại những 16 ngày, còn hàng trăm người khác nữa, hết bao nhiêu ngày? Nhưng cái đó có hề chi trước sau vẫn chỉ là số lượng, điều cốt yếu là đã đến được. Người ra trước kẻ ra sau, người gặp lại bạn, người không gặp lại bạn, tất cả đều mừng mừng tủi tủi trong cuộc đời mới mẻ.

Hơn 400 người ra, còn lại 239 người! Gần hai trăm người làm gì trong cái hòn đảo ít người cũng gay mà nhiều người quá cũng chết này? Huyện ủy và huyện đội để cho các anh được quyền lựa chọn tùy theo sở trường, ngành nghề của mình. Họ tản xuống các xã cùng du kích tham gia bám trụ địa bàn, ho gia nhập lực lượng võ trang huyện, họ vào trạm xá, trong các ban ngành của huyện ủy. Trong số họ có một ít người quá mệt mỏi xin ra làm rẫy, lấy vợ như một người dân, số khác xin được trở về đất liền móc ráp lực lượng, tìm lại đơn vị hay trở lại quê hương.

239 người có 15 sĩ quan từ thiếu úy đến trung úy, có 26 hạ sĩ quan từ hạ sĩ đến thượng sĩ, có 3 huyện ủy viên, 3 bác sĩ, 29 y sĩ, 5 y tá, còn lại là chiến sĩ gồm đủ các quân binh chủng: hải quân, bộ binh, pháo binh, đặc công, cơ yếu, thông tin...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#18 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:39 AM

Trong số sĩ quan có anh hùng quân đội Trương Văn Hòa. Chỉ khi khai lý lịch tại ban đón tiếp tù ở huyện đội, người ta mới biết được điều đó. Anh hùng là vốn quý của quân đội, của nhân dân, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên khu, khu báo cáo lên "Rờ" và "Rờ" báo lên Trung ương. Trung ương điện trở lại. Ba tháng sau, Trương Văn Hòa dù muốn ở lại đánh giặc nhưng đành phải chia tay mọi người vượt biển về đất liền. Ba tháng sau nữa, người lính Phú Quốc một đêm mở đài đã thấy tiếng anh đang tố cáo hành động chà đạp thô bạo lên công ước quốc tế về đối xử với tù binh chiến tranh của Nhà lao Cây Dừa trên làn sóng phát thanh Hà Nội.

239 người ra tù! 106 người tản về các cơ quan ban ngành, các bộ phận huyện xã. 50 người còn khỏe mạnh và nhiệt huyết về lực lượng chiến đấu, 34 người về đất liền, 7 người đau bệnh chết, 5 người mất tích không rõ lý do, 1 người tự sát, 1 người chết vì trốn về đất liền, 2 người đầu hàng địch trở lại... Những con số này cũng sẽ không nói lên điều gì nếu khi ra, người tù không gắn mình vào hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc kháng chiến trên đảo và sẽ nói lên tất cả nếu hàng trăm con người đó biết coi mảnh đất đảo này chính là mảnh đất chiến đấu của mình. 239 người thoát tù, còn lại gần hai trăm người trụ lại: Hầu hết những người trụ lại đều mang chung một tâm lý phục thù. Ngày đêm họ nung nấu ý nghĩ phải tấn công nhà lao bằng mọi cách, dù chỉ để phá vỡ đi một mảng, giải phóng được một số người. Sau những năm tháng đau khổ tột cùng, tâm lý muốn trả hận kẻ đã gây ra cho mình những khổ đau ấy là thường tình. Thường tình nhưng thực chất là cảm tính và manh động. Sự manh động này dẫn đến tự sát và khủng hoảng phong trào không mấy xa. Những cán bọ lãnh đạo chủ chốt thời gian này của huyện như anh Hai Hiến, Năm Nhất, Năm Sĩ, Ba Lon, Tư Tâm, Hai Phi và những người tù từng trải đã kịp thời ngăn chặn.

Đó là những hứng cảm chiến đấu chính đáng. Song cũng có những cảm hứng đời thường không mấy vui; ai không thèm khát cuộc sống thanh đạm yên hàn, nhất là sự thèm khát đó được nảy sinh sau những năm tháng tù đày kinh hoang. Nhưng cả nước đang có chiến tranh, hòn đảo đang có chiến tranh, làm gì có một thiên đường yên ả cho người tù trú ngụ. Phải chăng vì lẽ đó mà sau khi xin ra làm rẫy lấy vợ, đẻ con, người tù mang dòng máu lính một số không ít đã quay trở lại rừng lãnh một cây súng làm tiếp phận sự "Trai thời loạn" cùng với đồng đội. Số khác còn ngần ngừ, lập tức có kẻ xấu đến rỉ vào tai những điều bậy bạ nọ kia nhằm phân tán lôi kéo họ dạt sang hướng đối diện với trận tuyến của nhân dân.

Nhưng, giữa mệt mỏi cầu an và hành vi phản bội là chuyện khác nhau. Những người tù đó không thể phản bội lại quá khứ, phản bội lại đồng đội được. Nếu phản bội thì họ đã phản bội từ trong tù ngục rồi. Tuy nhiên, cũng có một người lính không tỉnh táo mà sa ngã. Khi nhận ra thì việc đã muộn. Lại phải chọn một mệnh đề thứ hai: Giữa phản trắc và cái chết. Người này tự sát (xin cho miễn được nói tên).

Tù ngục là lò luyện phẩm tiết. Nhưng tù ngục cũng có tác dụng phá vỡ nhân cách nếu anh một lúc nào đánh mất vị trí quân nhân cách mạng của mình. 239 người ra, 237 người nằm trong đội ngũ. Nhưng vẫn có 2 người không chịu được sự kham khổ và ác liệt bên ngoài, sau một đêm không ngủ với giấc ngủ của đồng đội, sáng sớm mai đã trở thành những tên đầu thú vào chi khu. Thật là một hành trình tăm tối: Từ đội ngũ vào tù, tù trở về với đội ngũ, và từ đội ngũ lại trở về với kẻ thù. Cuộc trở về lần ba đó còn khốn khổ hơn trở lại nhà tù. Một nhà tù phẩm cách, đạo lý và lương tâm. Sau này ta đã tìm diệt được một trong hai tên tăm tối đó và tôi cũng xin miễn phải nói tên.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#19 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:39 AM

Tại sao thế nhỉ? Con người là một mớ tổng thể những rắc rối lằng nhằng mà chính họ cũng không lý giải được. Ở tù gần kề cái chết thì khát thèm được thở hít khí trời tự do khoáng đạt dù chỉ một giờ rồi có vĩnh viễn xa lìa cõi sống cũng được. Vậy mà ra với tự do rồi lại loay hoay trăm thứ nọ kia. Băn khoăn về đãi ngộ ư? Về cấp chức ư? Về đường lối cách mạng, về tổn thất Mậu Thân ư? Cả một chút công thần về cái sự đã trải qua tù ngục nữa. Kỳ lạ! Hòn đảo cách đất liền 115 cây số nhỏ vô cùng và cũng gian lao vô cùng. Cả đảo chỉ có một đại đội không ngày nào không có người ngã xuống mà lại còn nhìn ngó trước sau ư? Khi ở tù làm gì có cái gọi là tồn tại cá nhân. Khi ra được, cái cá nhân lại nở phồng lên nhiều thế? Vậy là anh đã chậm lại so với tình hình. Thời gian tù đày là thời gian đông lạnh, trong khi cuộc sống ở ngoài vẫn cuộn chảy ào ào. Nếu không khéo, khi ra được, anh lại vô tình trở thành hòn đá tảng trong dòng chảy ấy. Nhưng rất may là cái đó không nhiều, thậm chí là rất ít. Một cán bộ đại đội bất mãn nằm ì, một thiếu úy chán ngán cảnh đánh đấm cò con, tự cho mình đứng ngoài kích thước của một tiểu đội, đã trộm nghe tính vượt biển trốn về đất liền, trốn về với đoàn quân chủ lực thôi nhưng không được. Cái chết do đạn lạc của anh đã làm cả đảo giật mình. Cấp ủy giật mình. Một bản tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo tư tưởng với sự có mặt của anh Ba Ca, cán bộ tỉnh ủy ở đất liền ra đã tự đánh giá thấm thía: "Cấp ủy đảo đã không thật nhạy bén với tình hình anh em tù ra nhiều. Đã không đánh giá và phát huy hết năng lực của anh em. Trong cấp ủy vẫn có những đồng chí nóng vội, chấp chới chưa đi sâu tìm hiểu anh em thấu đáo, thậm chí có lúc có nơi còn vội vàng trong đánh giá, trong cách nói năng cư xử... Huyện ủy khẳng định đây là những hạt nhân quý giá nếu biết tận dụng sẽ rất có lợi cho phong trào chung...".

Thế mới biết, ở đời cái gì cũng có hai mặt của nó cả. Anh em tù ra đã thổi vào đảo một sinh khí mới, song cũng đẻ ra những khó khăn không nhỏ. Chỉ có điều cái sinh khí đó mới là hệ trọng, mới đóng vai trò quyết định.

Tôi xin được nói sâu về cái sinh khí này.

Trong số 50 anh em thiện chiến khỏe mạnh được bổ sung và tình nguyện bổ sung về chiến đấu ấy, có 20 anh em về thành lập phân đội đặc công. Bắt đầu là Hai Hội, Tư Phước rồi Hai Hội, Nguyễn Quang và sau nữa là Tư Tâm, Ba Toản rồi chót cùng là còn lại mình Ba Toản chủ trì.

Đọc đến đây chắc các bạn sẽ không trách tôi là sao lại có ý thiên vị viêt về Ba Toản lắm thế, lại viết đầu tiên nữa. Một con người làm nên công trạng trong tù đã nên khẳng định, cũng con người ấy lại tiếp tục quên mình đi, tạo nên công trạng trong giai đoạn ra tù nữa thì dù có thiên vị đi nữa, ắt cũng là chuyện thường, huống hồ đây đâu có phải là cái chuyện thiên vị hay địa vị mà là lịch sử, là khách quan.

Sau khi phân đội đặc công của anh Hai Hội, Tư Phước rồi Hai Hội, Nguyễn Quang đánh thắng trận Cửa Cạn, không khí chiến đấu chung có chiều hướng đi lên và binh chủng đặc biệt tinh nhuệ vốn đã được hình thành từ lâu nhưng đang teo tóp dần đi này lại được phục hồi trở lại. Ấy vậy, đến trận Cây Thông và trận Suối Đá, ta lại tổn thất do công tác phối hợp không chặt và kỹ thuật chiến đấu không nghiêm.

Sau hai trận này không khí lại lắng xuống. Một số mất tin nằm yên, số khác lại tiếp tục xin về đất liền. Ngay cả đồng chí phân đội phó cũng re ngang ra dân làm ăn... Trong nội bộ, trong nhân dân đã xuất hiện những tiếng nói nghe thật xót xa: "Coi chừng! Chúng mày cứ theo ba cái ông tù ra là chết hết! - "Chúng mày" đây là những anh em bên đại đội bộ binh của anh Dũng quẹo sang phối hợp.

Ba Toản khi đó cùng với Bảy Minh và Tư Hùng - Những bạn tù cùng chui ra một lượt là ba mũi trưởng, nghe được như vậy ruột gan cứ cụn lên. Tự ái người tù bị đánh thức dậy dữ dội. Ai đó nói đâu phải nỗi tại họ, lỗi là những tay súng được đào tạo chính quy mà đánh có ba cái thằng địch địa phương cũng không xong. Hổ danh binh chủng lắm! Ngày đêm anh nung nấu những phương cách mới. Phương cách tác chiến của chính mình dựa trên đặc điểm cụ thể của kẻ thù trên đảo.

Vừa may huyện ủy, huyện đội kịp chỉ đạo củng cố lại đội hình. Tư Phước đã về đất liền, tuổi tác và sức khỏe không cho phép anh Hai Hội ở lại trực tiếp chiến đấu thêm được nữa, anh đề nghị chỉ định Ba Toản, người mũi trưởng có năng lực nhất thay mình. "Bổ sung quân và huấn luyện lại đi Ba Toản ạ! Phải thắng được một trận thật ngon để gỡ lại danh dự NGƯỜI TÙ". Anh nói vậy và cùng với Nguyễn Quang về tham mưu huyện đội.

Trong trận cuồng phong của chiến cuộc, nhiều khi sức mạnh của người lính phụ thuộc vào tư cách và danh dự chứ có phải cứ mỗi khi xung trận là lại mang những cái cao siêu như lòng căm thù, tinh thần yêu nước, lý tưởng chính trị ra đặt ở đầu súng đâu. Đặt hết vào đó, nặng lắm, bắn thế nào được.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

#20 User is offline   LoiDang Icon

  • Thành viên rất nhiệt tình
  • Icon
  • Nhóm: Administrators
  • Bài viết: 1.417
  • Tham gia: 22-Tháng tám 07
  • LocationDương Đông - Phú Quốc

Đã đăng 26 Tháng mười hai 2011 - 09:40 AM

Ba Toản chọn đánh lại mục tiêu "Đồn Cây Thông" là mục tiêu rắn mà thằng địch thường huênh hoang tuyên bố: "Nếu Việt Cộng đánh được, xin tế củ kiệu đầu heo nhậu chơi!". Đồn này lực lượng mạnh: một trung đội bảo an thiện chiến canh giữ, ba lô cốt, hàng rào 6 lớp dày đặc mìn trái và hai tiểu dội dân vệ chốt ở vòng ngoài.

Rút bài học lần trước, lần này Ba Toản tự mình đi nghiên cứu ba đêm liền. Có phương án rồi nhưng chưa thật yên tâm, anh lại trực tiếp vượt qua 6 hàng rào vào khảo sát lần cuối cùng rồi mới dẫn quân đi... Trận đánh thắng lợi giòn giã. Ta thu toàn bộ vũ khí, bắt sống tù binh và không thương vong một ai.

Thừa thắng, sau mấy tháng chờ cho địch củng cố xong, anh lại xin trên cho anh "Đồn Cây Thông" một lần nữa. Một làn bai, hai lần thắng mới mong xóa được tiếng dở để đời. Trận này dù địch tăng cường mạnh hơn nhưng cũng chỉ sau nửa giờ đồng hồ đã bị ta san thành bình địa. Truyền thống bắt tù binh, thu vũ khí, băng bó cứu chữa cho kẻ thù của Phú Quốc từ xa xưa lại được tiếp tục ở cấp độ cao hơn trong trận đánh bồi đánh nhồi này.

Thay vì những câu nói nghe đau lòng trước kia, sau trận này, một người dân từ ấp chiến lược mang rượu, đầu heo ra nói: "Trời đất! Mấy chú đặc công ta đánh ngon quá! Lính Quốc gia đang kháo nhau ầm cả lên kia kìa. Họ bảo, sau này có thấy mấy người nói tiếng trọ trẹ, tốt nhất là chạy thôi, họ còn đùn đẩy nhau rút tham khi bị điều lên đồn". Chao ôi! Nghe mát ruột quá! Tự ái người tù nằm trong cái tự ái non sông đã tạo nên một thế trận trên đảo.

Phân đội đặc công đã ăn nên làm ra. Tiếp tục phối hợp cùng với đại đội bộ binh của huyện diệt trọn trạm cảnh sát ác ôn ở gần thị trấn Dương Đông, cái ung nhọt chuyên cấm vận, làm khó làm dễ cho dân, cho phong trào bao vây lâu nay.

Tháng 10 năm 1971. Toàn bộ lực lượng vũ trang của huyện đảo tổ chức đánh thẳng vào dinh thiếu tá quận trưởng ác ôn. - Nơi xuất phát của những cuộc hành quân và tội ác. Phân đội đặc công với nghiệp vụ tinh thông của mình đã kết hợp với nội gián bên trong thực hiện một động tác điều nghiên rất chu đáo.

Đêm 25 tháng 10, trong khi kẻ thù đang họp bàn để tìm cách diệt ta trong mùa kho 1971-1972, lực lượng vũ trang ta trong đó lấy đặc công làm nòng cốt đã bí mật đi từ Bến Tràm về Dương Tơ, cắt ngang lộ số 10, tập kết tại núi Suối Mây rồi dựa theo mép sóng tiếp cận lên Ao Sen sát thị trấn. Đáng lẽ trận đánh thọc sâu này sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu như ta không bị lộ, đành phải tập kích từ xa. Tuy vậy, sau nửa giờ tên ác ôn thiếu tá cũng phải đền tội cùng với 50 tên khác trong đó có thiếu tá tiểu đoàn trưởng thuộc bộ chỉ huy sư đoàn 9 vừa chân ướt chân ráo đặt chân lên tới đảo để thực hiện một âm mưu bình định mới của kẻ thù. Khu thông tin và nhiều nhà lính bị đánh sập, ta thu và phá hủy một cây 12 ly 7, hai pháo 105, một cối 106,7 ly, 4 cụm rốc két hàng đêm nhả đạn vào rừng. Trận này ta hy sinh hai người trong đó có một người tù vượt ngục ra tên là Tân. Dòng máu của người lính đảo và người lính tù đã cùng đổ xuống cho một bước trưởng thành về chiến thuật, kỹ thuật của đường lối chiến tranh nhân dân đang tồn tại ở nơi đây - Từ chiến thuật phòng ngự chuyển sang chiến thuật tấn công.

Sau vụ tập kích rung động này, địch lo sợ vội đưa lực lượng cảnh sát của chúng vào vòng trong để tránh bị tiêu diệt. Nhưng thế trận đã mở ra, chúng trốn đâu cho thoát. Mùa mưa 1973, đội biệt động do Ba Toản chỉ huy đã giả trang luồn vào tận giường nằm của chúng và nổ súng, làm chủ toàn bộ chi khu cảnh sát ba, bốn tiếng liền...

Chiến công nối tiếp chiến công. Càng đánh lực lượng ta càng mạnh. Số anh em tù vẫn tiếp tục ra thay thế cho những anh em tù đã ngã xuống. Lúc ấy, cả tiểu đoàn 207 của tỉnh trong đất liền cũng chỉ được một trăm quân nhưng riêng đại đội chủ công của huyện đã có biên chế nhiều hơn thế rồi.

Chiến công này tạo đà cho chiến công khác. Dương Tơ anh hùng đã trụ vững kìm chân địch suốt trong những năm tháng gian lao. Hôm nay, nếu đi dọc theo con đường ven biển từ An Thới về Dương Đông, khách vãng lai sẽ nhìn thấy những cột mốc chiến thắng dựng ở ven lộ với ngày.... tháng... năm Quân và dân Dương Tơ đã diệt một trung đội... một tiểu đội...

Dường như ẩn sau những trụ xi măng đứng im lìm trong cỏ lác đối diện với biển cả bốn mùa sóng vỗ ấy, người ta thấy được bóng dáng xã đội trưởng Hai Sửu mà chiến công đánh giặc của anh được bà con lưu truyền như huyền thoại với tài nghệ xuất quỷ nhập thần, với sự gan góc đến thành liều lĩnh, với lối đánh gần như giáp lá cà khiến địch không kịp trở tay. Và nhìn thấy bóng dáng của cả những người tù quê ở bốn phương đêm ngày bám dân bám đất, chịu cực khổ cùng với người xã đội trưởng bản xứ của mình như: Nguyễn Đức Hòe, Ngọc, Sinh...
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp
Quê nhà một góc nhớ mênh mang


0

  • (2 Trang)
  • +
  • 1
  • 2
  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Bạn không được phản hồi chủ đề này

1 Người đang đọc chủ đề này
0 thành viên, 1 khách, 0 người ẩn