Để thu hồi trọn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam, bộ đội hải quân cùng tiểu đoàn 410 trung đoàn 95 Quân khu 9 đã thực hành một trận chiến đấu đổ bộ, ngày 27 tháng 5 năm 1975 ta đã giải phóng hoàn toàn quần đảo Thổ Chu.
I-Tình hình chung
1.Địa hình, thời tiết
Quần đảo Thổ Chu (Poulo Panjang) gồm 8 đảo chạy dài từ vĩ độ 09°15B-09°23B, kinh độ 103°26Đ-103°28Đ. Trong đó có đảo Thổ Chu là lớn nhất, với diện tích khoảng 10km2 còn đảo khác có diện tích 1km2 là: Hòn Đứng, Hòn Nhạn, Hòn Keo Ngựa, Hòn Khó, Hòn Từ và Hòn Cao Cát, Hòn Cái Bàn và Hòn Mô.
Cách tây nam Phú Quốc 55 hải lý, cách tây bắc mũi Cà Mau 85 hai lý, nằm gần đường hải biên quốc tế Băngkok, Komponsom, Sài Gòn và Hồng Kông nên được xem là một vị trí chiến lược quan trọng.
Trên đảo có các đỉnh núi cao, phía đông có đỉnh cao 167m, phía tây bắc có cao điểm 143, tây nam có cao điểm 146, trên đảo có cây cối rậm rạp, nhiều cây to, nhiều gỗ quý. Ở đây chỉ có một con đường mòn lởm chởm đá nối liền bãi Ngự và bãi Giang dài 1800m ngoài ra không có con đường nào khác, muốn đi lại từ bắc xuống nam đảo người ta phải dùng tàu thuyền.
Ở Bến Ngự có một sân bay trực thăng nhưng từ lâu không được tu bổ.
Bờ đảo phía bắc vách đứng cây cối rậm rạp có nhiều mũi đá chạy nhô ra. Tây nam đảo có Bãi Ngự là bãi lớn nhất rộng khoảng 600m, có độ sâu thích hợp cho các loại tàu đổ bộ, tàu thường neo đậu ở đây để tránh gió mùa đông bắc. Bãi này là bến chính của đảo Thổ Chu.
Đông nam đảo có các bãi: Bãi Giang, Bãi Mun, Bãi Nhất. Bãi Giang dài 200m là bãi cát, tương đối kín đáo, nước trong vịnh sâu, yên sóng neo đậu được 6-8 tàu loại nhỏ từ 200 tấn trở xuống, các tàu loại vừa đổ bộ tốt.
Bãi Mun có nhiều dài khoang 300m sát liền với Bãi Giang, nước sâu, tàu có thể neo đậu được nhưng đáy có vụng đá.
Bãi Nhất dài hơn 100m có nhiều mũi đá tàu không vào được.
Quần đảo này chịu ảnh hưởng khí hậu 2 mùa: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5.
Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3, gió mùa tây nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9. Trong những ngày thực hiện kế hoạch giải phóng đảo thì thời tiết tốt, trăng sáng, bóng gió êm (cấp 2) gió tây nam, không mưa, tầm nhìn trên 10km.
2.Tình hình địch:
Quân ngụy Sài Gòn chiếm đóng trên đảo trước đây đã chạy về đất liền hoặc theo tàu ra nơớc ngoài.
Ngày 6 tháng 5 năm 1975 quân Khơ me đỏ (Cam-pu-chia) đã đổ bộ lên bãi Dài thuộc quần đảo Phú Quốc và bị ta đuổi đi. Ngày 10 tháng 6 năm 1975 chúng đã dùng tàu LCM và 3 tàu PCF đưa quân đổ bộ đánh chiếm đảo Thổ Chu. (Theo lời kể của một số đồng bào ta vừa chạy thoát từ đảo Thổ Chu về). Sau khi thăm dò, không có lực lượng ta, chúng lừa gạt nhân dân là giúp đỡ đánh Mỹ-ngụy giải phóng đảo. Nhưng liền sau đó chúng hạ cờ ta xuống treo cờ chúng lên, sau đó chúng đã dồn dân xuống tàu đưa về đất Cam-pu-chia và đã giết một số trên biển, chúng đươa người của chúng lên làm xã trưởng, xã phó, bí mật thủ tiêu những người có tinh thần đấu tranh (7 người).
Lực lượng địch có khoảng 1 tiểu đoàn bố trí như sau:
Ở Bãi Ngự: 1 trung đội.
Bãi Mun và Bãi Giang: 1 trung đội.
Bãi Cao và Hòn Từ: 2 trung đội.
Quá trình chiếm đóng địch đã 3 lần đổ quân tăng cường và bổ sung vũ khí.
Vũ khí trang bị: súng trường, tiểu liên, lựu đạn và M79.
Ngoài ra còn có: 3 khẩu 12,7mm; 1 khẩu ĐKZ75; 1 khẩu ĐKZ l06; 3 khẩu cối 81, 82 và cối 60, đại liên, B40, B41.
3.Tình hình ta:
Đảo Thổ Chu trước đây về mặt hành chính thuộc tỉnh An Xuyên, trên đảo có khoảng 600 dân bao gồm 200 gia đình, tuyệt đại đa số là người Kinh gốc Rạch Giá có một số ở Khu 5 sơ tán vào thời kỳ Mậu Thân (1968 có 4 gia đình gốc Khơ me). Dân chủ yếu sống tập trung ở Bãi Ngự, nghề chính là đánh cá và làm nương rẫy. Tinh thần cách mạng trong nhân dân tương đối tốt mặc dù bị địch kìm kẹp gắt gao, tuy vậy ta cũng chưa có cơ sở cách mạng tại đây.
Ngày 16 tháng 5 năm 1975, một lực lượng hải quân đến đảo Phú Quốc và ngày 18 tháng 5 năm 1975 mới nhận bàn giao căn cứ hải quân vùng 4 duyên hải ở An Thới do Quân khu 9 tiếp quản trước, nay bàn giao lại. Cùng ngày hội nghị quân sự ở Phú Quốc quyết định việc giải phóng quần đảo Thổ Chu.
Tình hình lúc này ta có nhiều khó khăn, Hải quân vừa tiếp quản cơ sơ vật chất sau khi quân ngụy rút chạy để toàn những thứ hư hỏng, thiếu đồng bộ ta đã nhanh chóng triển khai sửa chữa tàu thuyền và ngày 20 tháng 5 năm 1975 ta đã hợp đồng tác chiến với các lực lượng tham gia đánh đảo.
Lúc nay tình hình trên đảo cũng chi nắm được một cách khái quát do một số dân trên đảo chạy về báo, thời gian khẩn trương nên không tổ chức trinh sát đơợc. Do lực lượng ta thiếu: đặc biệt là người sử dụng phương tiện nên ta quyết định lựa chọn một số lính ngụy cũ để lái, sử dụng máy và các pháo trên các tàu PCF và tàu LCM-8.
Các lực lượng tham gia trận này bao gồm:
Về Hải quân: Một phân đội đặc công 39 đồng chí.
4 tàu PCF vừa khôi phục (101, 102, 103, 104) mỗi tàu có 3 đồng chí đặc công và 4 lính ngụy cũ.
2 tàu vận tải quân sự của đoàn 125 (T643, T657).
1 biên đội tàu tuần tiễu gồm 2 tàu 199, 219.
Lực lượng địa phương Quân khu 9:
Tiểu đoàn bộ binh 410-trung đoàn 95 có 2 đại đội 140 người.
1 trung đội địa phương của đảo Phú Quốc 25 người.
2 tàu LCM của Rạch Giá.
11 người cán bộ và dân địa phương đi dẫn đường.
II-Tổ chức chuẩn bị chiến đấu
1.Nhiệm vụ:
Bộ tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho đoàn Hải quân Phú Quốc giải phóng các đảo phía tây Phú Quốc do quân Khơ me đỏ chiếm đóng.
2.Quyết tâm:
a.Ý định tác chiến: Bí mật hành quân đổ bộ làm 2 mũi vào phía bắc đảo Thổ Chu, thọc sâu áp sát các mục tiêu. 04 giờ 30 ngày 24 tháng 5 năm 1975 nổ súng bất ngờ, bao vây chia cắt tiêu diệt gọn địch giải phóng đảo.
b.Tổ chức lực lượng và nhiệm vụ cụ thể: hải quân có nhiệm vụ tổ chức hành quân vượt biển đưa lực lượng đổ bộ lên đảo an toàn và theo kế hoạch đã hiệp đồng chỉ huy chung trận đánh.
Phân đội đặc công nước có nhiệm vụ đánh chiếm bãi đổ bộ trước để đưa lực lượng bộ binh vào sau. Sau đó phụ trách độc lập 1 mũi đánh vào Bãi Mun.
Trung đội địa phương đánh vào Bãi Giang.
Tiểu đoàn 410 đánh vào mục tiêu chủ yếu Bãi Ngự và một bộ phận đánh vào Bãi Nhất.
3 tàu PCF có nhiệm vụ yểm trợ trong hành quân, khi nổ súng dùng hỏa lực chế áp các mục tiêu dự định, yểm trợ cho bộ binh tiến công thuận lợi.
2 tàu vận tải quân sự chở bộ đội đặc công và lấy tàu 657 làm sở chỉ huy: Quá trình chiến đấu dùng hoa lực chi viện cho các mũi khi cần thiết và làm nhiệm vụ vận chuyển.
2 tàu LCM-8 của Rạch Giá chở bộ binh và vận chuyển chi viện gần trong đảo.
c.Tổ chức chỉ huy:
Ban chỉ huy trận đánh bao gồm:
Đồng chí Thuyết đại úy hải quân chỉ huy trưởng.
Đồng chí Minh thiếu tá hải quân chính ủy.
Đồng chí Võ Kim Toàn đại úy tham mưu hải quân.
Đồng chí Hồng trợ lý tham mưu bộ binh.
Tàu VT657 là chỉ huy sở của trận đánh.
Tồ chức thông tin liên lạc:
Thông tin đường dài về sở chỉ huy ở đảo Phú Quốc qua máy vô tuyến điện của VT657.
Thông tin trong biên đội và giữa các biên đội bằng máy PRC25. Tại Phú Quốc thành lập ban chl huy hỗn hợp để chỉ huy trận đánh. Đồng chí Tư Đô trung đoàn phó 395 chỉ huy trưởng. Đồng chí Thế Trình trung tá hải quân chl huy phó.
Cơ sở đảm bảo và phục vụ chiến đấu do đoàn Hải quân Phú Quốc đảm nhiệm.
d.Thời gian
Các lực lượng tập kết tại căn cứ hải quân An Thới hoàn thành công tác chuẩn bị vào ngày 22 tháng 5 năm 1975.
Ngày 23 tháng 5 năm 1975, hành quân vượt biển đến điểm xuất phát đổ bộ phía bắc hòn Cao Cát.
Tối 23 tháng 5 năm 1975, thực hành bí mật đổ bộ.
04 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4 năm 1975, theo lệnh các mũi đồng thời nổ súng phấn đấu trong 2 ngày 24 và 25 giải phóng hoàn toàn đảo Thổ Chu.
3.Kế hoạch hiệp đồng, bảo đảm chiến đấu
a.Giai đoạn chuẩn bị: vì thời gian ít nên khẩn trương chuẩn bị kế hoạch, phương tiện cố gắng hoàn thành trong ngày 22 tháng 5 năm 1975.
b.Giai đoạn hành quân vượt biển: đến vị trì xuất phát đợi cơ.
2 tàu LCM-8 chở bộ binh xuất phát trước, đến bãi Cao Cát là điểm xuất phát đổ bộ thì dừng lại.
2 tàu vận tải quân sự 643 và 657 và 3 tàu PCF xuất phát sau một thời gian từ An Thới kế hoạch sẽ gặp 2 tàu LCM-8 trên đường hành quân và đến cùng lúc tới bãi Cao Cát.
Hành quân từ An Thới đến Cao Cát đi ban ngày đoạn đường khoảng 50 hải ly.
c.Giai đoạn thực hành đổ bộ
Vị trí bãi đổ bộ: đổ quân 2 mũi về phía bắc đảo.
Biện pháp đổ bộ: đặc công đổ quân chiếm bãi trước, sau đó bộ binh lên sau, còn tàu PCF cơ động phía ngoàì cách đảo 3 hải lý cảnh giới cho đội hình đổ bộ. Thời gian hoàn thành trước 24 giờ ngày 23 tháng 5 năm 1975.
d.Giai đoạn triển khai đánh chiếm trí quy định
Sau khi đổ bộ quân xong theo kế hoạch các mũi triển khai chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.
Đặc công tiến chiếm bãi Mun.
Tiểu đoàn 410 chiếm Bãi Ngự và Bãi Nhất.
Trung đội địa phương chiếm Bãi Giang.
Các tàu điều động như sau:
3 tàu PCF vòng lên phía tây bắc xuống Hòn Khô sẵn sàng chi viện ứng cứu cho tiểu đoàn 410 tấn công vào Bãi Ngự.
2 tàu vận tải quân sự vòng qua Hòn Cao Cát tiến xuống đông nam đảo, sẵn sàng chi viện ứng cứu cho các mũi ở Bãi Mun và Bãi Giang.
2 tàu LCM-8 sau khi đổ quân xong về bắc Cao Cát chờ lệnh.
Thời gian nổ súng 04 giờ 30 phút sáng 24 tháng 5 năm 1975.
Các mũi sau khi đã chiếm lĩnh xong các vị trí quy định thì báo cáo về sở chỉ huy và nhận lệnh thống nhất nổ súng.
Hỏa lực của các tàu: cối, đại liên, áp chế hỏa lực địch theo kế hoạch đã phân công và khi có yêu cầu của bộ binh.
III.Diễn biến và kết quả chiến đấu
1.Diễn biến chiến đấu
12 giờ 30 phút ngày 23 tháng 5 năm 1975, 2 tàu LCM-8 ở bãi Duyên đoàn 42 xuất phát đúng với thời gian theo kế hoạch vì ra muộn nên việc sửa chữa kéo dài đến 11 giờ 30 phút mới đi đón bộ binh được.
15 giờ, 2 tàu vận tải quân sự 643 và 657 (tàu chỉ huy) cùng 3 tàu PCF (101, 102, 103) xuất phát ở An Thới, quá trình hành quân không tàu PCF hướng đi không chính xác và không ôổ định nên đi sau biện đội vận tải.
18 giờ, liên lạc được với 2 tàu LCM-8 trên máy PRC-25 nhưng chưa thấy nhau, đội hình đã thấy được điểm xuất phát đổ bộ.
19 giờ 35 phút, toàn bộ đội hình gặp nhau tại vị trí xuất đổ bộ tiến hành sắp xếp đội hình và tiếp cận đổ bộ theo thứ tự, cánh 2 (657, 1 LCM, cánh 1 (643, 1 LCM). Còn 3 tàu PCF đi sau khi đến bắc đảo Thổ Chu khoảng 3 hải lý thì dừng lại bên ngoài để giảm bớt tiếng động.
Lúc này phát hiện thấy tàu lạ ở phía bắc Thổ Chu khoảng 10 hải lý có đèn sáng ta theo dõi nhưng vẫn tiếp tục hành động theo kế hoạch.
Sau khi tiếp cận gần bãi đổ bộ do địa hình thực tế không cho phép 2 cánh đổ bộ trên 2 hướng. Ban chỉ huy quyết định tập trung cả 2 hướng vào đông bắc với khoảng cách 100m, tày 643 đi theo sát bờ đến bãi đổ bộ thì dừng lại quan sát, tiếp cận 150m thì cho đặc công lên trước, còn tàu đổ bộ thì dừng lại ở phía ngoài.
21 giờ 15 phút tàu 643 áp mạn bên phải tàu 657 và để đặc công lên chiếm bãi đổ bộ, sau khi lên xong đã liên lạc được với Sở chl huy.
Tàu LCM-2 tiến công vào bãi đổ bộ, đến cách bờ 15m bị cạn. Cùng lúc đó tàu LCM-1 cũng đang tiến vào thì 1 máy hỏng làm cho mặt dựng không hạ được; chỉ huy quyết định cho LCM-1 cặp mạn phải LCM-2 để đổ quân qua. Bộ binh lại không lên được bờ nên ta quyết định lấy toàn bộ xuồng cao su của 2 tàu vận tải làm cầu cho bộ binh lên.
21 giờ 30 phút bộ binh bắt đầu đổ bộ.
Sau 45 phút các phân đội bộ binh đổ bộ xong, LCM-1 theo kế hoạch lùi ra, đồng thời LCM-2 cũng ra được cạn. Sở chỉ huy ra lệnh cho 3 tàu PCF tiến vào, toàn bộ đội hình tập trung lại cách bờ trên 1 hải lý thả trôi, căn cứ vào thực tế ta quyết định 2 tàu LCM ở lại bên ngoài bãi đổ bộ 1 hải lý để án ngữ cảnh giới phía bắc, mà không theo kế hoạch trở lại vị trí xuất phát đổ bộ. Lúc này nước trôi mạnh về phía đông nên các tàu phải luôn luôn điều chỉnh.
Từ khi bộ binh lên bờ xong thì hoàn toàn bị mất liên lạc.
03 giờ 45 phút ngày 24 tháng 5 năm 1975, Sở chỉ huy lệnh cho 2 tàu LCM ở lại phía bác, 3 tàu PCF vòng qua hướng tây dừng lại ở Hòn Khô, 2 tàu vận tải quân sự vòng qua đông hòn Cao Cát tiến về phía đông nam.
04 giờ 15 phút, các tàu đến vị trí quy định xong vẫn không liên lạc được với tiểu đoàn 410.
04 giờ 30 phút, Sở chỉ huy vẫn liên lạc được với trung đội địa phương ở bãi Đông và đặc công ở Bãi Mun để chỉ đạo hai cánh này áp sát địch, trinh sát đợi giờ nổ súng.
05 giờ trời sáng, tàu 657 nhích dần lên bãi Ngự để liên lạc với tiểu đoàn 410 nhưng vẫn không được. 05 giờ 15 phút, tiểu đoàn 410 ở bãi Ngự nổ súng, ngay lúc đó Sở chỉ huy ra lệnh toàn bộ nổ súng, 3 tàu PCF tiến ra trước bãi Ngự theo hợp đồng.
Địch trong bờ dùng ĐKZ và cối bắn trả nhưng không mạnh.
05 giờ 15 phút mũi đặc công làm chủ bãi Mun.
07 giờ, trung đội địa phương tiến lên chiếm một phần bãi Đông địch co cụm lại công sự đánh trả.
07 giờ 15 phút, hai tàu LCM phát hiện có một tàu lạ đang từ phía bắc tiến vào Thổ Chu ta đã tổ chức quan sát và theo dõi.
07 giờ 30 phút, Sở chl huy lệnh cho 3 tàu PCF trở lại phía bắc để kiểm tra nắm tình hình, đồng thời điểu một tổ đặc công và tàu 643 sang chi viện và hiệp đồng chế áp địch cho trung đội địa phương đang bị địch đánh trả.
01 giờ 45 phút, ba tàu PCF báo cáo về tàu lạ có nhiều người, có vũ khí và treo cờ đỏ. Sở chỉ huy ra lệnh vây bắt tàu đó, bắt thả neo, nếu chống cự thì bắn tiêu diệt đồng thời điều tàu 643 sang tổ chức cuộc vây bắt. Khi đó tàu 657 tiến về bãi Đông dùng hỏa lực chề áp địch ở đây đồng thời phát hiện có 1 ghe máy từ hòn Từ đang đi sang bãi Đông ta bắn tiêu diệt.
08 giờ-08 giờ 30 phút, quân địch ở bãi Đông tháo chạy ta làm chủ bãi Đông. Cùng thời gian này, tàu 643 và 1 LCM đã cập sát chiếc tàu địch bắt chúng đầu hàng, ta thu tàu và bắt 40 tù binh vào bãi Đông.
08 giờ 45 phút, một tàu LCM vào bãi Dông để lấy tử sĩ và thương binh, thời gian này cuộc chiến đấu ở bãi Ngự vẫn đang tiếp diễn.
12 giờ 30 phút, cán bộ của tiểu đoàn 410 sang bãi Đông báo cáo tình hình với Sở chỉ huy là hiện địch ở bãi Ngự đang cụm lại 2 điểm tựa bắc bãi Ngự, đông nam bãi Ngự. Và yêu cầu chi viện.
Sở chỉ huy lệnh cho 1 LCM sang bãi đổ bộ đã chở thương binh về chuyển sang T643 và T643 chở thương binh, tử si và tù binh về An Thới.
Từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút, theo yêu cầu của tiểu đoàn 410, chỉ huy cho T657 và 3 tàu PCF sang bãi Ngự chi viện. Ở đây địch đang dùng ĐKZ và cối bắn trả ta, mãnh liệt nhất là ở cao điểm đông nam.
Thời gian này tiểu đoàn 410 đã khôi phục được liên lạc (vì máy tiểu đoàn 410 hỏng) nhưng lại không liên lạc được với Sở chỉ huy ở bãi Đông do địa hình che khuất. Chiến sự ở bãi Ngự vẫn tiếp diễn.
16 giờ, Sở chỉ huy trận đánh nhận được điện của Sở chỉ huy cơ bản báo có 2 tàu tuần tiễu ra chi viện và cho tàu 657 đón ở đông nam bãi Ngự 3 hải lý. Được lệnh 18 giờ tàu 657 ra phía đông bắc đảo Thổ Chu cảnh giới và đón 2 tàu tuần tiễu.
18 giờ 45 phút đến 19 giờ 30 phút, tàu 657 liên lạc được với 2 tàu 219, 199 đã đưa 2 tàu này về vị trí quy định.
20 giờ đến 20 giờ 30 phút tàu 657 gặp được 2 tàu 219 và 199 nhận tình hình và tổ chức neo lái.
21 giờ, có ánh đèn ở bãi đổ bộ, tàu 657 dùng tín hiệu trả lời và phán đoán: thứ nhất là ta chuyển thương binh xuống, thứ hai là tàu địch xuống bãi đổ bộ.
Nên quyết định điều 1 tàu LCM qua bãi đổ bộ và sẵn sàng vũ khí nêu là địch thì bắn tiêu diệt.
22 giờ 30 phút, khi tàu LCM đi qua thì ánh đèn trên bãi đổ bộ bị mất, ta xác định là địch nên quyết định cho tàu LCM về vị trí cũ ở bãi Đông.
Từ 23 giờ đến 6 giờ sáng ngày 25 tháng 5, tình hình yên tĩnh, ta tiếp tục chuẩn bị kế hoạch tiếp theo.
6 giờ 30 phú, ngày 25 tháng 5 năm 1975, biên đội tuần tiễu ở phía bắc đảo nhổ neo trở về bãi Đông. Tàu LCM chở quân tăng cường lên bờ.
07 giờ 45 phút, tàu 657 tới bãi Ngự để nắm tình hình và liên lạc với tiểu đoàn 410. Ngay lúc đó địch ở cao điểm đông nam bãi Ngự bắn trả ta, lập tức tàu 657 đánh trả lại và lệnh cho 2 tàu tuần tiễu từ bãi Đông sang đánh cao điểm đông nam. Nhận được lệnh, 09 giờ 2 tàu tuần tiễu 219 và 199 sang bãi Ngự đánh địch và đã liên lạc được với tiểu đoàn 410. Ta đã chiếm được điềm tựa phía bắc bãi Ngự. Địch ra hàng hơn 100 tên số còn lại chúng co cụm trên cao điểm, ta kiên quyết dùng 25mm bắn bộ binh địch và 37mm tập kích vào cao điểm, địch đã mất hẳn sức chống trả.
10 giờ đến 12 giờ, bộ binh ta tiến lên cao điểm đông nam bắt sống 56 tù binh, còn lại một số tên chạy ra bãi Mun để hàng, đặc công của ta ở đây bắt giữ 18 tên.
13 giờ, tàu 643 sau khi chở thương binh tử sĩ và một số tù binh về An Thới đã trở lại Thổ Chu.
16 giờ một tàu LCM sang bãi Ngự để đón thương binh tử sĩ và một số tù binh về đưa sang tàu 643. 19 giờ, tàu 643 tiếp tục về An Thới.
Sau đó Bộ chl huy mặt trận họp sơ bộ đánh giá và nhận định tình hình đi đến quyết định: Ngày 26 tháng 5 năm 1975 cho bộ binh tiếp tục truy quét tàn quân địch, trinh sát ở hòn Cao và hòn Từ để đêm 27 đổ bộ lên đánh.
20 giờ Ban chỉ huy họp xong lệnh cho tàu T101 (PCF) đưa 2 tổ đi trinh sát ở hòn Cao, hòn Từ xong T101 đã trở về bãi Đông.
Sáng ngày 26 tháng 6 năm 1975, Ban chỉ huy sang bãi Ngự nắm tình hình thì được một bộ phận đặc công báo cáo một tổ trinh sát không lên Hòn Cao được vì trên đường tiếp cận đảo có một đòng chí bị chuột rút nên tổ phải điều trở về.
18 giờ ngày 26 tháng 5, tàu T101 ra đón tổ trinh sát ở hòn Từ về báo cáo tinh hình cho Ban chỉ huy. Ban chỉ huy quyết định dùng một tên tù binh cấp đại trưởng của địch sang hòn Từ để gọi hàng.
Trong đêm tàu 643 từ An Thới trở ra có chở một đại đội để tăng cường đánh đảo.
Theo kế hoạch, sáng 27 tháng 5 năm 1975 ta cho tàu đến bãi Ngự để đem tên tù binh và xã trưởng sang tàu 657 đi gọi hàng.
8 giờ, 1 tàu PCF đưa đi có kéo theo một xuồng cao su và 1 tù binh có thư gọi hàng. Đồng thời ta cho hai tàu tuần tiễu 219 và 199 ra án ngữ đông nam hòn Cao, hòn Từ. Ngày 27 tháng 5 năm 1975 trận đánh kết thúc.
2.Kết quả chiến đấu:
Địch: bị loại khói vòng chiến đấu 1 tiểu đoàn tăng cường có hỏa lực tương đối mạnh.
Toàn bộ vũ khí trang thiết bị bị tịch thu.
Ta: hy sinh 4 đồng chí, bị thương nhẹ 14 đồng chí bộ binh, 2 tàu bị hòng máy phải kéo về.
IV-Ưu, khuyết điểm và kinh nghiệm
1.Ưu điểm
Quyết tâm cao khắc phục mọi khó khăn để chuẩn bị tàu thuyền kịp thời vận chuyển quân đổ bộ.
Công tác chuẩn bị các mặt khẩn trương, kế hoạch tương đối chu đáo, ý định tác chiến rõ ràng và phù hợp, tìm mọi cách để nắm tình hình trong điều kiện không đủ thời gian trinh sát thực địa trước.
Biết tận dụng khả năng trang bị và người vừa tiếp quản vào phục vụ chiến đấu.
Sử dụng lực lượng đã có nhiều cố gắng và được tính toán đúng.
Đánh giá đúng khả năng hoạt động của từng loại tàu để sử dụng cho phù hợp và đúng mức.
Xác địch vị trí triển khai đổ bộ cũng như chọn bãi đổ bộ, hướng đổ bộ và tổ chức đổ bộ chính xác.
Hải quân đã chủ động tác chiến từ đầu đến cuối, tạo thuận lợi cho bộ binh tác chiến tiêu diệt địch.
2.Khuyết điểm
Sự hiệp đồng tập trung lực lượng tàu thuyền không đúng thời gian quy định.
Việc nắm địch, tuy có xúc tiến điều tra nhưng không trực tiếp, vấn đề đặt ra không được giải quyết cụ thể đã ảnh hưởng đến chiến đấu như không nắm được địch ở cao điểm đông nam, do vậy việc chiến đấu kéo dài thêm một ngày.
Địa hình không nắm cụ thể vì vậy phải thay đổi hướng đổ bộ.
Chưa thấy hết khó khăn của bộ binh đi biển và thực hành đổ bộ.
Việc chuẩn bị tính toán đưa quân, xuống hàng không chính xác làm chậm trễ kế hoạch hành quân.
Tổ chức cho bộ ninh đô bộ chưa có kinh nghiệm nên trước khi đổ bộ còn lộn xộn, đội hình thiếu chỉ huy, động tác còn lúng túng kéo dài thời gian.
3.Kinh nghiệm
a.Tổ chức chiến đấu gấp, phải cùng một lúc chuẩn bị chiến đấu và triển khai lực lượng tiến công
Trong tiến công tiêu diệt địch, có nhiều trường hợp phải đánh trong dk thời gian chuẩn bị gấp hoặc không có thời gian chuẩn bị, vì vậy phải vừa triển khai chiến đấu, vừa phải hoàn chỉnh công tác chuẩn bị.
Lực lượng hải quân và tiêu đoàn 410 trung đoàn 95 Quân khu 9 nhận lệnh chiến đấu giải phóng quần đảo Thổ Chu trong điều kiện vừa tới tiếp nhận căn cứ hải quân do Quân khu 9 bàn giao đồng thời nhận lệnh giải phóng đảo. Trong khi đó người và phương tiện quá thiếu, còn hỏng hóc phải sửa chữa, tiểu đoàn bộ binh 410 chưa qua huấn luyện hành quân vượt biển và thực hành đổ bộ khu vực tác chiến xa là quần đảo, địa hình, tình hình địch chỉ nắm sơ bộ qua tin tức chứ không được trinh sát.
Lực lượng hải quân và tiểu đoàn 410 trung đoàn 95 bước vào chiến đấu giải phóng quần đảo Thổ Chu trong tình hình khẩn trương, nên đã tổ chức thực hiện nhiệm vụ bằng cách huy động toàn bộ lực lươợng có thể có (cả con người và vũ khí phươơng tiện) vừa chuẩn bị vừa triển khai chiến đấu tạo thành thế mạnh tiến công địch, hoàn thành nhiệm vụ.
Trong điều kiện như vậy, nếu đòi hỏi có thời gian dài, chuẩn bị đầy đủ mới tiến công thì sẽ lỡ thời cơ. Tổ chức chiến đấu trong điều kiện gấp rút: chưa nắm địch, địa hình chưa quen thuộc lại xa thì người chỉ huy phải kiên quyết, táo bạo tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu chặt chẽ và linh hoạ t.
b.Xác định vị trì triển khai đổ bộ cũng như chọn bãi đổ bộ, hướng đổ bộ chinh xác
Tuy việc nắm và đánh giá địch ở quần đảo Thổ Chu ban đầu chưa thật đầy đủ, nhưng nhờ đi sâu nghiên cứu cân nhắc các mặt, lực lượng ta đã chọn vị trí triển khai đổ bộ cũng như bãi đổ bộ và hướng đổ bộ chính xác và hợp lý ngay từ đầu.
Thành công của trận đánh đã chứng minh lãnh đạo và chỉ huy đã phát huy trí tuệ của tập thể, tận dụng mọi yếu tố và khả năng đã có để họp bàn xây dựng được quyết tâm, và kế hoạch chiến đấu cụ thể.
Để đổ bộ đánh chiếm được đảo bảo đảm bí mật bất ngờ, an toàn bao vây chia cắt tiêu diệt gọn địch, ta đã chọn bãi Cao Cát là điểm xuất phát đổ bộ vì từ An Thới tới Cao Cát khoảng cách khoảng 50 hải lý ta đi được ban ngày đảm bảo an toàn, và địa hình ở đây cũng thuận lợi cho ta tập kết đợi cơ.
c.Tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tác chiến hiệp đồng
Trong trận tiền công giải phóng quần đảo Thổ Chu ta đã sử dụng lực lượng khá chặt chẽ và hợp lý trong điều kiện của ta. Do lực lượng ta thiếu đặc biệt là người sử dụng phương tiện, vừa tiếp quản, nên đã quyết định chọn một số lính nguỵ để lái tàu và sử dụng phương tiện các tàu đặc công của ta kèm theo và hướng dẫn. Riêng lực lượng tàu ta dùng các tàu vận tải, tuần tiễu tàu đổ bộ để vừa hỗ trợ được cho nhau và phát huy được tinh năng tác dụng của từng loại tàu trong tác chiến đổ bộ.
Ngoài lực lượng đặc công của Hải quân còn có tiểu đoàn 410 Quân khu 9 cùng lực lượng địa phương Phú Quốc đã tạo thành thế mạnh hỗ trợ cho nhau trong quá trình hành quân vượt biển, tiếp cận bãi đổ bộ và thực hành chiến đấu chiếm đảo, ta đã lấy lực lượng hải quân làm nòng cốt nên đã chủ động tác chiến từ đầu đến cuối tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh tác chiến tiêu diệt địch.


Đăng nhập
Đăng ký
Trợ giúp



Trích dẫn nhiều bài